Hà Nội
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2010
THÔNG TIN BÁO CHÍ
Về Kỷ niệm ngày
Truyền thống và 65 năm ngày thành lập ngành Tài chính
(I). Sáng ngày
28/8/2010,
tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Bộ Tài chính tổ chức Lễ Kỷ niệm
ngày Truyền thống và 65 năm ngày thành lập ngành Tài chính Việt Nam. Đến dự Lễ
kỷ niệm có: Đồng chí
Nguyễn Sinh Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ;
Đồng chí Trần Đức Lương, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng
hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Đồng chí Trương Quang Được, nguyên Uỷ viên Bộ
Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
Các
đồng chí UVTW Đảng; Bộ trưởng, Lãnh đạo các Ban của Đảng; Lãnh đạo các cơ quan
đoàn thể ở Trung ương; Bí thư tỉnh ủy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt
Nam.
- Các đồng chí Lãnh đạo đại
diện các Bộ, ban, ngành Trung ương;
- Các đồng chí Lãnh đạo, đại
diện cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Các đồng chí nguyên là cán
bộ ngành Tài chính hiện là lãnh đạo các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương;
- Các đồng chí Lãnh đạo các
tập đoàn, tổng công ty.
Về phía ngành Tài chính, Tôi
xin trân trọng giới thiệu, Đồng chí Vũ Văn Ninh, Uỷ viên Trung ương đảng, Bộ
trưởng Bộ Tài chính; Các đồng chí trong Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tài chính;
các đồng chí nguyên là Lãnh đạo Bộ, Lão thành cách mạng ngành Tài chính và hơn
1000 đại biểu, đại diện cho toàn thể cán bộ, công chức ngành Tài chính từ Trung
ương đến địa phương trong cả nước.
(II). Cách đây 65 năm,
đúng vào ngày ra đời của Chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng
hòa 28/8/1945, ngành Tài chính được thành lập và ngày này hàng năm đã được Thủ
tướng Chính phủ quyết định là ngày Truyền thống của ngành Tài chính Việt Nam. Từ
đó đến nay, trải qua các cuộc kháng chiến gian khổ, trên mỗi chặng đường lịch sử
cách mạng của dân tộc, cán bộ ngành Tài chính đã không ngừng phấn đấu xây dựng
nền tài chính nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm nhu cầu tài chính cho các
cuộc kháng chiến thắng lợi, góp phần quan trọng cho việc xây dựng và bảo vệ vững
chắc toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của đất nước.
Ngay sau khi chính quyền
cách mạng được thành lập, nhân dân ta vừa phải chống giặc ngoại xâm, chống chọi
và khắc phục hậu quả thiên tai, vừa phải chống giặc đói, giặc dốt để bảo
vệ độc lập dân tộc và kiến thiết đất nước. Trong bối cảnh đất nước “Ngàn
cân treo sợi tóc”, ngân quỹ của Chính quyền non trẻ hầu như trống rỗng; đứng
trước các nhu cầu chi tiêu khẩn cấp và quan trọng,
dưới sự lãnh đạo
của Đảng, Chính phủ, hưởng ứng lời thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
hàng loạt các biện pháp về tài chính đã được áp dụng
như xây dựng Quỹ độc lập,
Quỹ nuôi quân, Quỹ bình dân học vụ, Tuần lễ vàng, phong trào hũ gạo kháng chiến…
đã khơi dậy
và phát huy lòng yêu nước, sức mạnh tổng hợp của nhân dân, tích cực tăng gia sản
xuất, thực hành tiết kiệm, góp công sức, góp của vào sự nghiệp bảo vệ và xây
dựng đất nước. Đồng
thời, ngay trong những ngày đầu bề bộn khó khăn đó,chúng ta đã kịp thời tổ
chức phát hành đồng tiền tài chính – “ Giấy Bạc Cụ Hồ” làm
cơ sở cho việc xây
dựng một nền tài chính độc lập, tự chủ, lấy dân làm gốc, dựa vào dân và phục vụ
lợi ích của nhân dân.
Trong thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp, với nhiệm vụ vừa chống giặc đói, giặc dốt, vừa
phải chống giặc ngoại xâm, trong điều kiện tiềm lực tài chính còn nghèo, được sự
ủng hộ, đồng sức, đồng lòng của nhân dân, chúng ta đã phát hành thành công giấy
bạc tài chính, công phiếu, tín phiếu, phiếu tiếp tế... kháng chiến ở cả 3 miền
để tạo lập nguồn lực chống giặc đói, chống giặc dốt và cuộc kháng chiến bảo vệ
thành quả của Cách mạng tháng Tám.
Tiếp theo đó,
trước sự phát triển và yêu cầu ngày càng lớn của công cuộc kháng chiến, ngành
Tài chính đã chuyển từ chính sách động viên chủ yếu dựa vào tự nguyện sang chính
sách động viên theo nghĩa vụ qua hai chính sách lớn là thuế nông nghiệp, thuế
công thương nghiệp
theo nguyên tắc động viên đóng góp công bằng, đúng mức
theo khả năng thu
nhập để đảm bảo nhu
cầu kháng chiến, khuyến khích sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân.
Nhờ triển khai
tích cực các chính sách thuế, ngành tài chính đã huy động được nguồn lực tài
chính phục vụ nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, góp phần làm nên chiến thắng Điện
Biên phủ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Bước vào thời kỳ
xây dựng CNXH ở miền Bắc, chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và đấu tranh
giải phóng miền Nam (1954–1975), ngành Tài chính tiếp tục động viên tinh thần
thi đua yêu nước, tập trung sức mạnh, kịp thời chỉnh đốn chế độ thuế khoá và ban
hành chính sách tài chính mới áp dụng trong toàn miền Bắc, nhờ đó đã góp phần
tăng thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết thu nhập của thương nhân, chống đầu
cơ tích trữ, toàn dân thắt lưng buộc bụng, làm việc bằng hai, tất cả cho tiền
tuyến, chắt chiu từng đồng vốn cho việc xây dựng cơ sở vật chất, bảo vệ miền Bắc
xã hội chủ nghĩa, chi viện ở mức cao nhất sức người, sức của cho miền Nam ruột
thịt; Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng nghìn cán bộ tài chính đã vào chiến
trường, trực tiếp tham gia chiến đấu và vận hành nền tài chính phù hợp với điều
kiện cách mạng. Cán bộ Tài chính ở hậu phương Miền Bắc cùng với những chiến sỹ
kinh - tài ở mặt trận Miền Nam, trong đó có nhiều đồng chí, cán bộ đã sống,
chiến đấu và anh dũng hy sinh, góp phần vào thắng lợi lịch sử năm 1975, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau chiến thắng mùa xuân năm
1975, cả nước độc lập, thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, trước những hậu
quả nặng nề của chiến tranh, thiên tai, lũ lụt, hạn hán,…; để nhanh chóng khắc
phục khó khăn trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn cách
mạng mới, ngành tài chính đã thi hành nhiều chủ trương, biện pháp nhằm khai thác
và giải phóng tiềm năng kinh tế trong nước là chủ yếu, đồng thời tranh thủ khai
thác các nguồn viện trợ và vay nợ nước ngoài. Chúng ta đã thực hiện chính sách
tài chính động viên và quản lý phân phối các nguồn vốn có hiệu quả hơn, từng
bước tiến hành chế độ quản lý tài chính thống nhất trong cả nước, áp dụng hệ
thống thu: thu quốc doanh, thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp và các
chế độ quản lý tài chính xí nghiệp, quản lý ngân sách, chế độ kế toán, thống
nhất quản lý xổ số kiến thiết và phát hành công trái xây dựng tổ quốc. Trong
thời gian này, nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng, lạm phát tăng
cao, cán cân thanh toán thiếu hụt, các nguồn lực tài chính cạn kiệt, đời sống
của nhân dân giảm sút. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ
trương, giải pháp quan trọng để khuyến khích phát triển sản xuất, đảm bảo đời
sống nhân dân; ngành tài chính đã có nhiều cố gắng thi hành các chủ trương chính
sách tạo thêm nguồn thu trên cơ sở phát huy quyền chủ động sản xuất kinh
doanh và quyền tự chủ về tài chính của các Xí nghiệp quốc doanh đi đôi với việc
tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho đầu
tư phát triển và đời sống nhân dân.
Đại hội VI của Đảng
(12/1986) đã quyết định đường lối đổi mới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng
trong lịch sử phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước. Sau khi có nghị
quyết TW6 (khóa VI), với chủ trương kiên quyết thực hiện đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nền kinh tế tài chính
nước ta đã có những chuyển biến tích cực, cơ chế quản lý tài chính mới đã dần
thay thế cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp. Các biện pháp tài
chính đã hướng vào nhiệm vụ từng bước xoá bỏ bao cấp, chống lạm phát: thực hiện
chính sách lãi suất dương, xóa bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, cải cách hệ thống
chính sách thuế, chuyển cơ chế cung ứng vật tư, lương thực sang kinh doanh, thắt
chặt chi tiêu ngân sách;
Quốc hội đã thông qua Luật NSNN, các Luật Thuế, chấm dứt phát hành tiền cho ngân
sách chi tiêu, cải cách hệ thống thuế, Chính phủ ban hành cơ chế quản lý tài
chính nhằm tiến hành cải cách, sắp xếp lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động
của khu vực DNNN... Kết quả là đã phát triển sản xuất- kinh doanh, đẩy lùi lạm
phát phi mã từ 3 con số vào những năm 1987 – 1988 xuống còn hai con số vào đầu
những năm 90 và từ năm 1993 đưa trở về một con số; Tổng sản phẩm trong nước năm
2000 đã tăng gấp đôi so với năm 1990, đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế bình
quân hàng năm đạt 7,5%; Thu NSNN năm 2000 tăng hơn 10 lần so với năm 1990, Thu
NS đã đảm bảo chi thường xuyên và có tích luỹ cho đầu tư phát triển. Các hoạt
động kinh tế - xã hội chuyển biến rõ rệt, đời sống nhân dân được cải thiện, an
ninh quốc phòng được giữ vững, tiềm lực tài chính quốc gia được củng cố.
Trong giai đoạn từ
năm 2000 đến nay, công tác Tài chính tiếp tục được đổi mới để trở thành công cụ
sắc bén điều tiết vĩ mô nền kinh tế, động viên tối đa mọi nguồn lực, tạo môi
trường thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh.... Kết quả đạt được trên một số mặt chủ yếu như sau:
(1) Hoàn thành
việc xây dựng và ban hành hệ thống khuôn khổ pháp lý khá đồng bộ về
quản lý tài chính NSNN, Thuế, thị trường tài chính,
giá cả, dự trữ, công sản, tài chính doanh nghiệp,....
theo chương trình xây dựng
các văn bản pháp luật đặt ra trong Chiến lược tài chính quốc gia đến năm 2010.
Hệ thống pháp luật về tài chính đã đáp ứng yêu cầu của Đảng là “xây dựng đồng bộ
thể chế tài chính phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”.
(2) Tiềm lực tài chính Nhà
nước ngày càng được củng cố và lớn mạnh; thu ngân sách hàng năm đều vượt so với
kế hoạch và năm sau cao hơn năm trước; quy mô thu NSNN năm 2010 tăng gấp 5,6 lần
so với năm 2000. Cơ cấu thu được cải thiện, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu
NSNN tăng từ mức trên 54,6% năm 2000 lên gần 64% năm 2010.
Ngân sách Nhà nước đảm bảo
chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của đất
nước. Dự
phòng, dự trữ nhà nước được tăng cường với quy mô dự trữ năm 2010 tăng gấp 3,5
lần so với năm 2000, phục vụ có hiệu quả công tác phòng chống thiên tai, dịch
bệnh, xử lý các nhiệm vụ đột xuất cấp bách phát sinh. An ninh tài chính được giữ
vững với mức bội chi trong phạm vi kiểm soát; dư nợ chính phủ ở ngưỡng an toàn
đã góp phần làm ổn định cân đối vĩ mô nền kinh tế...
(3) Hệ thống thị
trường tài chính và dịch vụ tài chính, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán, tư vấn tài
chính được hình thành và phát triển, cơ cấu, quy mô, phạm vi hoạt động
được mở rộng và đáp ứng ngày càng hiệu quả hơn yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
đất nước.
(4) Chủ động hội
nhập quốc tế về tài chính, tham gia tích cực, có hiệu quả trong các quan hệ tài
chính song phương, đa phương góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế.
(5)
Trong những năm gần đây, để
đối phó với khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu tác động đến tình hình kinh
tế trong nước; với nhiệm vụ được giao, ngành Tài chính đã tham mưu với Đảng,
Quốc hội, Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, có hiệu quả nhiều
giải pháp về tài chính - ngân sách quan trọng góp phần thực hiện thành công ngăn
chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh
xã hội đưa Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có tăng trưởng
kinh tế dương.
Ghi nhận những
thành tích, đóng góp của ngành Tài chính trong quá trình xây dựng và trưởng
thành, ngành Tài chính đã vinh dự được đón nhận nhiều phần thưởng cao quý như
Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, nhiều tập thể, cá nhân được phong
tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Danh hiệu chiến sỹ thi đua
toàn quốc, Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động ... của Đảng,
Nhà nước phong tặng. Ngày 06 tháng 8 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết
định số 1372/QĐ-TTg công nhận ngày 28 tháng 8 hàng năm là “Ngày Truyền thống của
ngành Tài chính Việt Nam”.
Chuẩn bị kết thúc
kế hoạch năm 2006 - 2010 và chuẩn bị triển khai nhiệm vụ kế hoạch 5 năm
2011-2015 và chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, những thành tựu của
25 năm đổi mới đã làm cho thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều; Ngành Tài chính
đứng trước cơ hội mới để phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn nhưng cũng đồng thời
cũng đứng trước nhiều thách thức. Dự thảo văn kiện Đại hội XI sắp tới của Đảng
đang đề ra mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội tổng quát: phấn đấu đến năm
2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị xã hội
ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ
vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền
đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.
Để thực hiện tốt
mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
trong giai đoạn tới, ngành Tài chính cần nỗ lực phấn đấu thực hiện đồng bộ các
giải pháp để thực hiện mục tiêu chiến lược là:
Hoàn thiện cơ chế tài chính
phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và yêu cầu hội nhập quốc
tế phục vụ cho việc giải phóng lực lượng sản xuất, huy động các nguồn lực trong
và ngoài nước; tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia đủ mạnh, đảm bảo an ninh
tài chính, góp phần tích cực điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải
quyết các vấn đề xã hội; quản lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực; đẩy mạnh cải cách hành chính đi đôi với hiện đại hoá, tăng cường công tác
quản lý, giám sát tài chính góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển
kinh tế xã hội của Đảng đề ra.
Tự hào với truyền
thống của ngành Tài chính trong 65 năm xây dựng và trưởng thành, vui mừng trước
những kết quả đạt được, nhận thức rõ vai trò và nhiệm vụ trong giai đoạn mới,
toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tài chính quyết tâm tranh thủ các điều
kiện thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ mà Đảng, nhà nước và nhân dân giao phó. Mỗi cán bộ Tài chính Việt Nam
nhất định sẽ xứng đáng hơn nữa với lòng tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng
đáng với truyền thống tốt đẹp của ngành.
(III). Tại Lễ Kỷ niệm,
với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “lá lành đùm lá rách”, luôn tích cực
đóng góp, ủng hộ các quỹ từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ đồng bào gặp khó khăn do
thiên tai... Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh đã thay mặt toàn thể cán bộ,
công chức ngành Tài chính trao tặng: Quỹ đền ơn đáp nghĩa của Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội; Quỹ vì người nghèo của Ủy ban TWMTTQ Việt Nam; Quỹ nạn
nhân chất độc da cam/dioxin trực thuộc Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.
Mức ủng hộ mỗi quỹ là 300 triệu đồng./.
BỘ
TÀI CHÍNH
[Trở về]