TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Để tiếp thu các ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, các DNNN cũng như sự phản biện của xã hội, Cổng Thông tin Điện tử Bộ Tài chính mở Chuyên mục “ Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước”, góp phần giúp Bộ Tài chính có thêm thông tin nhiều chiều nhằm xây dựng, hoàn thiện Đề án Tái cấu trúc DNNN. Các bài viết, ý kiến đóng góp cho Chuyên mục xin gửi về: Phòng Báo chí – Tuyên truyền- Văn phòng Bộ Tài chính- 28 Trần Hưng Đạo- Hoàn Kiếm- Hà Nội hoặc Email: nguyenleanh@mof.gov.vn.

CỔNG TTĐT BỘ TÀI CHÍNH

  In bài    Gửi bài

Một số nội dung về tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước

(21/11/2011 14:17:00)

Hội thảo “Tái cấu trúc Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)” do Học viện Tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức mới đây tại Hà Nội với sự tham gia của đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học, đại diện lãnh đạo một số DNNN, các cơ quan thông tấn báo chí…Cổng TTĐT Bộ Tài chính giới thiệu một số bài viết, ý kiến thể hiện quan điểm cá nhân của các đại biểu tham gia hội thảo.

Doanh nghiệp nhà nước và tái cấu trúc

 

Trước thời kỳ đổi mới, với cơ chế của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động ở Việt nam chủ yếu là dưới hình thức các DNNN. Từ những năm 1990, khi thực hiện chính sách đổi mới và phát triển kinh tế theo thị trường thì nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đã được thành lập và hoạt động đồng thời với các DNNN. Tuy nhiên, do có thời gian thành lập sớm nên các DNNN luôn có ưu thế hơn và đã trở thành bộ phận quan trọng, có đóng góp lớn và quyết định tới sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, với những điều kiện của cơ chế thị trưòng, các DNNN đã bộc lộ nhiều yếu kém và do vậy từ những năm 1995, Chính phủ đã tiến hành nghiên cứu và triển khai thực hiện các chính sách cải cách, đổi mới thông qua việc xắp xếp lại, cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê đối với các DNNN. Chương trình cải cách và đổi mới các DNNN được thực hiện rất tích cực, đặc biệt là trong giai đoạn 2001 – 2010. Đến nay, nhiều tập đoàn kinh tế lớn đã ra đời, nhiều tổng công ty đã thực hiện cổ phần hoá, nhiều doanh nghiệp được xắp xếp, tổ chức lại với những quy chế quản lý tích cực hơn và đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Song, bên cạnh đó, những hạn chế của các doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục lộ diện, nhất là trong thời gian khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính thế giới từ 2008 đến nay. Nhiều ý kiến cho rằng những hạn chế lớn nhất của các DNNN hiện nay ở nước ta là:

 

- Hoạt động kém hiệu quả, kém năng động. Mặc dù được hình thành sớm và được hưởng nhiều ưu thế trong việc sử dụng các nguồn lực về tài nguyên, đất đai, tiền vốn và lao động so với các khu vực sở hữu khác, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, song hiệu quả hoạt động kinh doanh thì kém hơn hẳn. Số liệu về Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam 2007 - 2009 qua Điều tra của Tổng cục Thồng kê cho thấy, tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh của các DNNN các năm 2007 – 2009 là giao động trong khoảng 3,5 – 4,3%, trong khi đó các doanh nghiệp FDI là trong khoảng 9,1 – 11,7%. Còn tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của các DNNN giai đoạn 2007 – 2009 là từ 6,3 – 8,2%, thấp hơn các doanh nghiệp FDI với mức là 10,6 – 13,1%. Điều đó cho thấy hiệu quả hoạt động của các DNNN chỉ bằng khoảng 50% so với các doanh nghiệp FDI.

 

- Biểu hiện của dấu hiệu độc quyền trong kinh doanh. Với ưu thế được thành lập từ trước, cho nên, nhiều doanh nghiệp lớn trong một số các lĩnh vực kinh doanh có những biểu hiện của tình trạng độc quyền (Petrolimex chiếm tới 60% thị phần xăng dầu cả nước; Tập đoàn điện lực chiếm lĩnh gần hết thị trường từ khâu sản xuất tới truyền tải và bán lẻ; Tập đoàn than, khoáng sản cũng chiếm giữ phần lớn việc khai thác và cung cấp sản phẩm than trên toàn quốc…). Tình trạng độc quyền trong sản xuất kinh doanh đã làm méo mó thị trường, gây thiệt hại lớn tới quyền lợi của người tiêu dùng cũng như lợi ích của nhà nước, hạn chế sự phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế.  

 

- Công tác tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh chậm được đổi mới, nhiều doanh nghiệp chưa bắt kịp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, còn có tư tưởng ỉ lại vào nhà nước, sử dụng nguồn tài nguyên, vốn còn lãng phí. Trong thời gian vừa qua, nhiều tập đoàn, tổng công ty sử dụng vốn đầu tư rất dàn trải, đầu tư ngoài ngành thiếu thận trọng vào những lĩnh vực có rủi ro lớn (thị trường tài chính, bất động sản…) gây thất thoát vốn và tài sản của nhà nước, nợ xấu ngày càng có xu hướng tăng lên. Các tổ chức, đơn vị sản xuất kinh doanh dưới sự bảo trợ của nhà nước vẫn còn có tư tưởng vì lợi ích nhóm mà bỏ qua lợi ích của toàn bộ nền kinh tế thông qua việc đề nghị Chính phủ quyết định tăng giá bán một số sản phẩm thuộc diện quản lý giá của nhà nước, đòi được hưởng một số những trợ cấp, ưu đãi trong sản xuất kinh doanh hoặc tiếp tục xuất khẩu những sản phẩm mà trong thời gian tới Việt nam phải nhập khẩu… 

 

Những hạn chế trên đây của các DNNN xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Song nguyên nhân quan trọng nhất là ý thức chấp hành luật pháp của các DNNN chưa tốt, tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại vào sự bảo hộ của nhà nước và chính sách quản lý điều hành của nhà nước không tốt, công tác quy hoạch, kế hoạch kém,…

 

Sau khủng hoảng tài chính thế giới, những yếu kém của DNNN đã trở thành những trở ngại lớn cho kinh tế Việt nam phát triển theo hướng ổn định và bền vững, do vậy Chính phủ đã chủ trương thực hiện chính sách tái cấu trúc nền kinh tế bao gồm ba nội dung chính, trong đó tái cơ cấu các DNNN là một trong các nhiệm vụ trọng tâm. 

 

Định hướng tái cấu trúc các DNNN

 

Tái cấu trúc các DNNN ở nước ta hiện nay chính là việc thực hiện xắp xếp lại, tổ chức lại, thực hiện cổ phần hoá, đổi mới chính sách đầu tư… theo hướng hợp lý hơn, thị trường hơn… đảm bảo cho các DNNN hoạt động có hiệu quả, nền kinh tế phát triển bền vững và ổn định. Để thực hiện tái cấu trúc các DNNN, một số các vấn đề cần đề cập và thảo luận thống nhất như sau:

 

(i)Về mục tiêu. Mục tiêu tổng quát của tái cấu trúc là nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư và xã hội;. tăng cường năng lực cạnh tranh, qua đó phát huy vai trò chủ đạo của Khu vực kinh tế NN trong đó DNNN có vị trí quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững, ổn định.

 

(ii)Yêu cầu của tái cấu trúc. Giảm số lượng các DNNN, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, tiềm lực tài chính đủ mạnh để phát triển trong điều kiện cạnh tranh hiện nay.

 

(iii)Phạm vi tái cấu trúc. Tái cấu trúc trong phạm vi các DNNN có quy mô lớn (86 tập đoàn, tổng công ty nhà nước theo danh sách của Ban chỉ đạo tái cấu trúc DNNN) bao gồm: tái cấu trúc trong từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động, thậm chí từng tập đoàn sản xuất kinh doanh. 

 

(iv)Quan điểm tái cấu trúc

 

- Kinh tế NN vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó DNNN giữ vị trí quan trọng của kinh tế Nhà nước. (quan điểm cơ bản để tiến đến xây dựng chủ nghĩa xẫ hội). Nên tiếp tục củng cố, duy trì DNNN trong những lĩnh vực mà kinh tế tư nhân không thể thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả, những khâu quyết định đến nền tảng phát triển kinh tế của cả xã hội.

 

-  DNNN quá nhiều nhiệm vụ, chỉ nên tập trung vào những nhiệm vụ được xác định cụ thể. Đặc biệt không giao những nhiệm vụ mang tính chính trị cho DNNN.

 

- Tái cấu trúc doanh nghiệp được thực hiện đồng bộ từ tái cấu trúc từ tư duy, thể chế, mô hình hoạt động, đầu tư, tái cấu trúc quản lý nhà nước đối với DNNN.

 

- Trọng tâm tái cấu trúc DNNN là tái cấu trúc tập đoàn kinh tế NN và các tổng công ty nhà nước.

 

(v)Phương thức thực hiện tái cấu trúc có thể là:

 

- Đánh giá lại mô hình tập đoàn kinh tế NN đa ngành, đa lĩnh vực. Các Tập đoàn kinh tế Nhà nước chỉ tập trung vào những ngành nghề chính được giao. Hệ thống các công ty con được thành lập chỉ là những doanh nghiệp đóng vai trò ngành nghề phụ trợ.

 

- Xóa bỏ các Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm trong các Tập đoàn kinh tế NN; Thoái vốn NN do các DNNN đầu tư ở các định chế tái chính. Vấn đề này cần được sớm giải quyết để khắc phục, ngắn chặn luồng tín dụng “bừa bãi” gây tình trạng nợ xấu cho các Tập đoàn KT.

 

- Chính phủ trao quyền đại diện sở hữu cho một cơ quan duy nhất. Thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ. Tách quyền sở hữu với quyền điều hành sản xuất kinh doanh; Trao quyền quản lý, giám sát DNNN mạnh hơn nữa cho các Bộ, Ngành.

 

- Tăng quy mô, năng lực điều hành, nguồn vốn cho các DNNN cần thiết phải duy trì phát triển.

 

- Thiết lập mô hình quản trị DNNN tuân thủ các quy tắc quản trị công ty. Quản trị doanh nghiệp quyết định sự sống còn và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp vững vàng hơn, tự tin và chủ động hơn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tồn tại và phát triển bền vững trong thời gian tới.

 

- Khẩn trương thiết lập hệ thống giám sát tài chính đủ mạnh, hiệu quả việc quản lý sử dụng vốn để cung cấp thông tin thường xuyên cho cơ quan quản lý giám sát.

 

- Hoàn thiện cơ chế và ban hanh quy chế người đại diện và kiểm soát viên trong DNNN trên cơ sở quy định rõ ràng, chặt chẽ về quyền hạn, nghĩa vụ, và lợi ích để tăng cường hiệu quả giám sát. Trao những chế tài đủ mạnh cho cỏc cơ quản lý, cơ quan giỏm sỏt, cơ quan đại diện chủ sở hữu.

 

- Rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc diện tái cấu trúc, đặc biệt là vấn đề đầu tư ngoài ngành, hướng các DNNN vào thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chính.

 

- Thay đổi chính sách đầu tư. Nhà nước thực hiện thay đổi, điều chỉnh chính sách đầu tư, nhất là chính sách huy động và sử dụng vốn đầu tư ở một ngành, một lĩnh vực, một tập đoàn hay doanh nghiệp theo hướng đảm bảo hiệu quả;

 

- Thực hiện xắp xếp lại các DNNN thông qua chia, tách, giải thế, sáp nhập để có một tổ chức hợp lý và hiệu quả;

 

- Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá các DNNN. Việc tiếp tục thực hiện cổ phần hoá mạnh hơn nữa sẽ làm cho các doanh nghiệp chuyển đổi tốt hơn về tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như đáp ứng tốt hơn khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường;

 

- Sửa đổi các chính sách về thuế về tổ chức, quản lý doanh nghiệp theo hướng xoá bỏ các bao cấp, ưu đãi đối với các DNNN, tạo môi trường bình đẳng giữa các DNNN với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế khác, mở rộng quyền và nghĩa vụ của các DNNN, xoá bỏ cách biệt giữa doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp khác;

 

- Xoá bỏ độc quyền kinh doanh đối với một số lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, có điều kiện hoặc lĩnh vực đặc thù (điện, than, xăng dầu…);

 

- Tăng cường công tác kiểm soát và giám sát, minh bạch thông tin đối với các DNNN;

 

- Tăng cường các chế tài áp dụng và các trách nhiệm cá nhân đối với những DNNN vi phạm các quy định về quản lý, điều hành doanh nghiệp.

 

(vi) Về thời gian. Đề án tái cơ cấu các DNNN nên tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2015.

 

(Quan điểm của Học viện Tài chính, tại hội thảo)

[Trở về]

Error: The listener returned the following Message: 400 Bad Request

Thông cáo báo chí | Ý kiến phản hồi | Diễn đàn | Sơ đồ site | Liên hệ |Liên kết|

Giấy phép thiết lập Website trên INTERNET số 256/GP-BC ngày 24-08-2006.

Người chịu trách nhiệm: Thứ trưởng Vũ Thị Mai

Số 28 Trần Hưng Đạo - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội

Tel: (84-4) 2220.2828 • Fax: (84-4) 2220.8091 • Email: support@mof.gov.vn