In bài   Gửi bài

Điều chỉnh mức thuế nhập khẩu mặt hàng hạt nhựa EPS, PS, sợi vải mành, sợi spandex, sợi viền

  (04/12/2012)

Thông tin góp ý xin gửi về Vụ Chính sách thuế Bộ Tài chính, 28 Trân Hưng Đạo, Hà Nội

 

Chi tiết của chủ đề:

New Page 1

BỘ TÀI CHÍNH

__________

Số: 16698 /BTC-CST

V/v điều chỉnh mức thuế nhập khẩu mặt hàng hạt nhựa EPS, PS, sợi vải mành, sợi spandex, sợi viền

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________________________

 

         Hà Nội, ngày 30  tháng  11 năm 2012

                         

 

              Kính gửi: 

                                                            - Bộ Công Thương;

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Các Hiệp hội: Dệt may; Nhựa, Cao su.

 

     Bộ Tài chính nhận được công văn số 02/CV ngày 3/9/2012 của Công ty TNHH Polystyrene Việt Nam và công văn số HSVNKH-20121508 ngày 28/8/2012 của Công ty TNHH Hyosung Việt Nam kiến nghị về thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng hạt nhựa EPS, PS và sợi vải mành, các loại sợi spandex, sợi viền. Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

1.    Mặt hàng hạt nhựa EPS, PS

a)    Kiến nghị của Công ty TNHH Polystyrene Việt Nam:

Tính đến nay nhà máy sản xuất hạt nhựa EPS, PS của công ty đã hoạt động được gần 5 năm tại thị trường Việt Nam. Hạt nhựa EPS, PS là nguyên liệu quan trọng sử dụng trong các ngành công nghiệp điện tử, các ngành công nghiệp khác, làm ra các sản phẩm được sử dụng rất nhiều trong các ngành công nghiệp khác nhau và phục vụ trực tiếp đời sống hàng ngày của con người.

-        Về hạt nhựa EPS:

 Tổng vốn đầu tư của nhà máy sản xuất hạt nhựa EPS là: 10.000.000 USD, Công suất sản xuất hạt EPS hiện nay của nhà máy từ 2500-3000 tấn/tháng, nhưng thực tế chỉ tiêu thụ tại thị trường Việt Nam từ 1000-1200 tấn/tháng, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu trong nước, nguyên nhân chính là do sự cạnh tranh rất gây gắt với hàng nhập khẩu. Hiện nay 90% khách hàng Việt Nam nhập khẩu mặt hàng EPS, PS từ Đài Loan, họ là những nhà máy có công suất rất lớn và tất cả các nguồn nguyên liệu họ có thể mua trong nước, do đó chi phí sản xuất của họ rất rẻ dẫn đến giá thành phẩm rất cạnh tranh, trong khi đó nhà máy tại Việt Nam phải nhập khẩu toàn bộ nguyên vật liệu từ nước ngoài về nên chi phí sản xuất  rất cao.

Về chất lượng sản phẩm của Công ty so với hàng nhập khẩu hoàn toàn giống nhau vì thực tế toàn bộ nguyên vật liệu đều nhập từ các nhà cung cấp ở nước ngoài và toàn bộ dây chuyền sản xuất đều được nhập khẩu từ các nhà máy nổi tiếng ở các nước trên thế giới. Hiện tại sản phẩm hạt nhựa EPS của Công ty đã được xuất khẩu sang các nước: Thai Lan, Indonesia, Malaysia, Thổ nhĩ Kỳ, Paskitan v.v.

Mặc dù đến năm 2012 thuế nhập khẩu hạt nhựa EPS, PS đã tăng lên là 3% nhưng nhà máy vẫn luôn gặp rất nhiều khó khăn do mức thuế thấp không đủ sức bảo hộ cho sản xuất trong nước, các doanh nghiệp vẫn nhập khẩu mặt hàng này từ Đài Loan và Trung Quốc, Thái Lan… Trong khi đó tất cả các nguồn nguyên liệu để sản xuất hạt nhựa EPS, PS đều phải nhập từ nước ngoài về vì Viêt Nam vẫn chưa sản xuất được những loại nguyên liệu này.

-        Về hạt nhựa PS (gồm hạt nhựa HIPS và hạt nhựa GPPS):

Hiện nay, công ty đã đầu tư xây dựng ở giai đoạn II sản xuất hạt nhựa PS, với vốn đầu tư: 15 triệu USD cho dây chuyền công suất: 4000-5000 tấn/ tháng. Toàn bộ thiết bị máy móc của dây chuyền này nhập về tháng 8/2011và đã chính thức đi vào hoạt động tháng 2/2012. Nếu dây chuyền sản xuất hạt nhựa PS được hoạt động hết công suất thì sản lượng của công ty sẽ đáp ứng được 100% nhu cầu trong nước (Hiện tại theo kết quả điều tra thị trường tiêu thụ tại Việt Nam mặt hàng PS là 4000-5000 tấn /tháng).

Tính đến ngày 30/8/2012 nhà máy PS sản xuất được 6 tháng, với công suất có thể đáp ứng được 100% thị trường nhưng công ty mới sản xuất có 50% năng suất, phần lớn sản lượng làm ra xuất khẩu đi các nước như Malaysia, Turkey, Thái Land, Indonesia...

Tại thị trường Việt Nam công ty bị sự cạnh tranh rất gay gắt của hàng nhập khẩu từ Thái lan, Đài Loan nhập về Việt Nam. Ví dụ Giá nhập khẩu hạt nhưa PS tháng 7 là 1627 USD/tấn (với mức thuế suất nhập khẩu 3%), giá bán trong nước của công ty là 1617 Nếu thuế nhập khẩu tăng lên 5% thì giá nhập khẩu sẽ tăng lên 1659 USD/tấn. Khi đó, sản phẩm của công ty mới có khả năng cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.

 Khi công ty đến đầu tư tại thị trường Việt Nam với mong muốn phát triển ngành công nghiệp Nhựa tại Việt nam, nhằm tạo điều kiện để khách hàng Việt Nam chủ động hơn việc mua nguyên liệu, do đó giấy phép kinh doanh của công ty xin phép tiêu thụ trong nước là 80% và xuất khẩu là 20%. Nhưng đến nay thì hoàn toàn ngược lại công ty phải xuất khẩu 80% và tiêu thụ trong nước chỉ chiếm có 20% tổng sản lượng của nhà máy. Đây là điều mà công ty hoàn toàn không mong muốn .Nhưng nếu công ty không xuất khẩu đi các thị trường khác thì nhà máy phải tạm ngừng sản xuất, công nhân thì không có việc làm, hàng tồn kho sẽ không có kho chứa, và nguồn vốn lưu động sẽ bị thiếu hụt trầm trọng. Hiện tại theo báo cáo doanh thu hàng tháng của kế toán, dây chuyền sản xuất hạt nhựa PS đang bị lỗ vốn rất nhiều.

Hiện nay phần lớn các nước có nhà máy sản xuất hạt nhựa EPS, PS thì thuế nhập khẩu của loại hạt này đều ở mức từ 5% đến 15%. (Ví dụ: Thai land:5%, Trung Quốc: 6.5%, Malaysia: 5%, Philippin: 15%, Turkey: 6.5%, Paskitan: 15%...).  Công ty đề nghị Bộ Tài chính cân nhắc xem xét và có điều chỉnh hợp lý về thuế nhập khẩu mặt hàng EPS, PS tăng lên 6.5% để hạn chế nhập khẩu mặt hàng hạt nhựa EPS, PS và bảo hộ sản xuất trong nước từ đó góp phần giảm tỷ lệ nhập siêu của cả nước. Việc tăng thuế nhập khẩu mặt hàng EPS, PS sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm, mạnh dạn đầu tư lâu dài và phát triển những dự án tiếp theo.

b)    Ý kiến của Bộ Tài chính:

-  Các mặt hàng hạt nhựa của công ty chủ yếu cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ các nước Asean, Hàn Quốc và Đài Loan. Thuế nhập khẩu ưu đãi MFN, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ATIGA và thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Asean – Hàn Quốc của các mặt hàng hạt nhựa EPS, PS như sau:

 

Mặt  hàng

Mã số

Khung TS UBTVQH

Cam kết WTO 2012

Thuế suất MFN

ATIGA

Asean – Hàn Quốc

 

 

 

 

 

 

 

Hạt nhựa EPS

3903.11.10

0%-13%

6.5

3

5

5

Hạt nhựa HIPS

3903.19.21

0%-13%

6.5

3

5

5

Hạt nhựa GPPS

3903.19.29

0%-13%

6.5

3

5

5

 

Như vậy, thuế nhập khẩu ưu đãi MFN hiện hành của mặt hàng hạt nhựa EPS, PS đang thấp hơn thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt khu vực Asean và Asean – Hàn Quốc.

-         Công suất sản xuất hạt EPS hiện nay của nhà máy từ 2500 - 3000 tấn/ tháng và công suất sản xuất hạt nhựa PS là 4000-5000 tấn/ tháng (đáp ứng 100% nhu cầu thị trường trong nước) nhưng thực tế nhà máy chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu trong nước vì khách hàng trong nước chủ yếu dùng hàng nhập khẩu. Do đó, để duy trì sản xuất công ty phải xuất khẩu ra nước ngoài với giá rẻ hơn giá thành. Theo báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, tính đến hết tháng 7/2012, công ty lỗ 10,2 tỷ đồng.

-     Về chất lượng sản phẩm: vì toàn bộ nguyên vật liệu đều nhập từ các nhà cung cấp ở nước ngoài và dây chuyền sản xuất đều được nhập khẩu từ các nhà máy nổi tiếng ở các nước trên thế giới nên chất lượng sản phẩm trong nước tương đương với chất lượng hàng nhập khẩu.

-        Theo số liệu của công ty cung cấp, giá hàng nhập khẩu và giá bán của công ty 1kg hạt nhựa cuối tháng 9/2012 như sau:

Sản phẩm

Giá bán của công ty (chưa bao gồm thuế GTGT)

Giá nhập khẩu (chưa bao gồm thuế NK và thuế GTGT)

 

Giá nhập khẩu với mức thuế NK 3% (chưa bao gồm thuế GTGT)

Giá nhập khẩu với mức thuế NK 6% (chưa bao gồm thuế GTGT)

Hạt nhựa EPS

37.000

36.157

37.241

38.326

Hạt nhựa PS

34.090

33.858

34.873

35.889

 

Mặc dù giá bán của công ty hiện nay thấp hơn giá nhập khẩu (đã bao gồm thuế nhập khẩu 3%) là  241 đ/kg (đối với hạt nhựa EPS) và 783 đ/kg (đối với hạt nhựa PS) nhưng mức chênh lệch này không lớn do đó các công ty nước ngoài sẵn sàng giảm giá bán để có mức giá cạnh tranh hơn và cho khách hàng Việt Nam mở L/C trả chậm, vì vậy các công ty lớn có nhu cầu sử dụng hạt nhựa lớn thường nhập khẩu từ nước ngoài.

-   Nguyên nhân giá bán trong nước cao hơn giá nhập khẩu:

+ Nguyên liệu sản xuất hạt nhựa phải nhập khẩu từ nước ngoài vì Việt Nam chưa sản xuất được, trong khi đó các công ty nước ngoài sản xuất được nguyên liệu để sản xuất hoặc mua được nguyên liệu trong nước do đó chi phí nguyên liệu đầu vào của công ty Polystyrene cao hơn.

+ Các công ty nước ngoài đã sản xuất hạt nhựa gần 20 năm nên máy móc đã tính khấu hao hết. Công ty Polystyrene mới sản xuất được gần 5 năm nên chi phí khấu hao máy móc chiếm 1,5% /giá thành.

-   Theo số liệu thống kê của TCHQ thì 9 tháng đầu năm 2012 mặt hàng EPS nhập khẩu 34.121 tấn (tương đương 58.693.197 USD), mặt hàng hạt nhựa HIPS nhập khẩu khoảng 21.000 tấn (tương đương 37.497.775 USD), mặt hàng hạt nhựa GPPS nhập khẩu 45.100 tấn (tương đương 65.025.451 USD).

Để hỗ trợ doanh nghiệp cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, góp phần hạn chế nhập siêu, Bộ Tài chính dự kiến tăng thuế nhập khẩu mặt hàng hạt nhựa EPS và PS (gồm HIPS và GPPS) lên 6%. Việc điều chỉnh tăng thuế lên 6% ngoài mục đích bảo hộ cho doanh nghiệp còn góp phần hạn chế nhập siêu vì hiện nay, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt trong các FTA (ATIGA, ASEAN – Hàn Quốc) đang là 5% cao hơn mức MFN hiện hành (3%) nên hàng nhập khẩu từ các FTA này không cần phải đáp ứng điều kiện gì mà vẫn được hưởng mức thuế suất thấp 3%.

2.         Các mặt hàng sợi: spandex, nylon, polyester, sợi thép, sợi viền

a)         Công ty TNHH Hyosung Việt Nam:

Công ty TNHH Hyosung Việt Nam sản xuất các loại sợi sau:

-            Sợi vải mành và các loại sợi như spandex, nylon, polyester (không có công đoạn nhuộm) mã số 5402.44.00, 5902.10.91, 5902.20.99: sản lượng 13.300 tấn/tháng

-            Sợi thép mã số 7312.10.20: sản lượng 11.500 tấn/tháng

-            Sợi viền (sợi tanh) mã số 7217.30.31: sản lượng 3.000 tấn/tháng

-            Vải túi khí: 40 tấn/tháng

Tổng doanh thu xuất khẩu năm 2011 của công ty hơn 500 triệu đô la và 6 tháng đầu năm 2012 hơn 300 triệu đô la. Hiện nay công ty đang có một số khó khăn trong việc kinh doanh các sản phẩm này vì sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu cùng chủng loại, cụ thể:

-            Đối với mặt hàng sợi spandex là nguyên liệu cho ngành dệt để sản xuất đồ thể thao, đồ lót, áo thun, đồ bơi, với, … các trang phục có tính đàn hồi, độ co giãn cao, thời trang cao cấp.

Nhu cầu trong nước đối với sản phẩm này là 850 tấn/tháng trong khi sản lượng sản xuất của công ty là 2.400 tấn/tháng. Hiện mặt hàng này có thuế suất nhập khẩu là 0% vì thế sản phẩm của công ty đang bị cạnh tranh với nguồn hàng nhập khẩu, đặc biệt là hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.

-            Đối với mặt hàng polyester, nylon là nguyên liệu sản xuất vỏ xe ô tô, xe tải, xe bus, máy bay …. là sợi cường lực dùng trong vỏ bánh xe. Mặt hàng này đang cung cấp cho 1 số công ty trong nước như DRC, YRC, Kumho (khoảng 5% sản lượng) và 95% xuất khẩu sang các công ty khu vực Mỹ, Nam Á, Châu Âu.

Nhu cầu trong nước đối với sản phẩm này là 800 tấn/tháng trong khi sản lượng sản xuất của cả nước là hơn 2.500 tấn/tháng (gồm công ty Haicatex: 330 tấn/tháng, Formosa Taffeta: 1.000 tấn/tháng, Hyosung VN: 1.200 tấn/tháng).

Hai mặt hàng này có thuế suất nhập khẩu là 0% và 5% nên sản phẩm của công ty chịu sự cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia với giá rẻ hơn khoảng từ 0.1 ~ 0.3$.

-            Đối với mặt hàng sợi thép và sợi viền là sợi cường lực dùng trong vỏ xe các loại. Mặt hàng này đang cung cấp cho 1 số công ty trong nước như Dongil, Minh Thanh, SRC, Kumho, … từ 5% - 30% sản lượng và phần còn lại xuất khẩu sang các nước Châu Mỹ, Châu Âu.

Nhu cầu trong nước đối với sản phẩm này là 1.200 tấn/tháng trong khi sản lượng sản xuất của công ty là 7.000 tấn/tháng, chuẩn bị nâng thành 14.500 tấn/tháng.

 Hai mặt hàng này có thuế suất nhập khẩu là 5% và 0% nên sản phẩm của công ty chịu sự cạnh tranh với hàng nhập khẩu, đặc biệt từ Trung Quốc.

Công ty đề nghị xem xét điều chỉnh tăng thuế suất MFN cho các sản phẩm của công ty để sản phẩm của công ty có thể cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, góp phần tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao đời sống của người lao động trong nước.

b)        Ý kiến của Bộ Tài chính:

Do các mặt hàng sợi của công ty chủ yếu cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Asean và Đài Loan nên theo Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Thông tư số 157/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011; Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Asean ban hành kèm theo Thông tư số 161/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011; Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Asean – Trung Quốc ban hành kèm theo Thông tư số 162/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 thì thuế suất MFN và FTA năm 2012 của các mặt hàng công ty như sau:

 

Mặt  hàng

Mã số

Khung TS UBTVQH

Cam kết WTO

Thuế suất MFN

ATIGA

Asean – Trung Quốc

 

 

 

2007

2012

 

 

 

Sợi spandex

5402.44.00

0-5

5

5

0

0

0

Vải mành làm lốp ô tô từ sợi nylon

5902.10.91

0-12

10

10

5

0

5

Vải mành làm lốp ô tô từ sợi polyester

5902.20.99

0-12

10

10

0

0

0

Sợi thép

7312.10.20

0-5

5

5

5

5

5

Sợi viền (sợi tanh)

7217.30.31

0-25

20

11.43

0

0

5

 

-   Mặt hàng “sợi thép” có thuế suất hiện hành là 5%, cam kết trần WTO từ khi gia nhập là 5% do đó kiến nghị điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu MFN theo đề nghị của công ty là không thực hiện được.

-   Các mặt hàng: “sợi spandex, vải mành làm lốp ô tô từ sợi polyester, vải mành làm lốp ô tô từ sợi nylon, sợi viền” công ty đã sản xuất được với công suất lớn, không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước châu Mỹ, châu Âu, …. Công ty đã có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương để bổ sung các sản phẩm trên vào Danh mục các mặt hàng trong nước đã sản xuất được.

-   Theo số liệu thống kê của TCHQ thì 9 tháng đầu năm 2012, sợi spandex nhập khẩu khoảng 8.000 tấn, tương đương 15.052.219 USD (nhập từ thị trường Trung Quốc chiếm 30%), vải mành làm lốp ô tô từ sợi nylon nhập khẩu hơn 5.000 tấn, tương đương 23.635.824 USD (nhập từ thị trường Trung Quốc chiếm 74%), vải mành làm lốp ô tô từ sợi polyester nhập khẩu khoảng 2.000 tấn, tương đương 6.266.693 USD (nhập từ thị trường Trung Quốc chiếm 56%).

Mặc dù các mức thuế theo cam kết FTA đang ở mức thấp, nhưng để được hưởng ưu đãi thì phải đáp ứng một số điều kiện nhất định trong đó cần có giấy chứng nhận xuất xứ C/O. Do vậy, việc tăng thuế nhập khẩu MFN có tác dụng hạn chế phần nào việc nhập khẩu mặt hàng này

Để bảo hộ sản xuất trong nước, Bộ Tài chính dự kiến điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi các mặt hàng này như sau:

-            Sợi spandex tăng thuế nhập khẩu từ 0% lên 5% (bằng mức trần cam kết WTO 2013), giá nhập khẩu sẽ tăng lên từ 55 USD/tấn đến 320 USD/tấn (tùy vào kích cỡ sợi).

-            Vải mành làm lốp ô tô từ sợi nylon tăng thuế nhập khẩu từ 5% lên 7%, giá nhập khẩu sẽ tăng lên khoảng 100 USD/tấn.

-            Vải mành làm lốp ô tô từ sợi polyester tăng thuế nhập khẩu từ 0% lên 5%, giá nhập khẩu sẽ tăng lên khoảng 210 USD/tấn

-            Sợi viền tăng thuế nhập khẩu từ 0% lên 5%, giá nhập khẩu sẽ tăng lên khoảng 50 USD/tấn.

 

Đề nghị quý cơ quan, đơn vị nghiên cứu, có ý kiến để Bộ Tài chính hoàn chỉnh văn bản trước khi ban hành. Ý kiến tham gia xin đưc gửi lại Bộ Tài chính trước ngày     /11/2012.

 

Trân trọng sự phối hợp công tác của quý cơ quan, đơn vị./.

 

Nơi nhận:

- Như trên;

- Vụ Pháp chế;

- Lưu: VT, CST (PXNK).

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

 

 

 

 

Đõ Hoàng Anh Tuấn (đã ký)

 

  • Ý kiến phản hồi
  • Chủ đề này đã hết thời gian đóng góp ý kiến
  • Các chủ đề khác
  • TTLT Hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo đến năm 2015 (03/12/2012)
  • TT Quy định về định mức phí nhập, xuất và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật dự trữ quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý (29/11/2012)
  • TT Hướng dẫn hỗ trợ tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 42/2012/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ (06/12/2012)
  • TT Hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số kiến thiết (03/12/2012)
  • TT Quy định chế độ thu, nộp và quản lý, sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực chăn nuôi (28/11/2012)
  • TTLT Hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình giai đoạn 2012-2015 (28/11/2012)
  • Hướng dẫn thi hành một số điều của NĐ số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ số 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi (19/11/2012)
  • TT: Sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng dây thép không hợp kim thuộc mã số 7217.10.39 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (14/11/2012)
  • Hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (14/11/2012)
  • Hướng dẫn xác định giá bán thuốc lá còn chất lượng nhập lậu bị tịch thu cho doanh nghiệp thực hiện tái xuất  theo Quyết định số 1112/QĐ-TTg ngày 21/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ và việc quản lý, sử dụng nguồn thu từ tái xuất thuốc lá. (15/11/2012)
  • Thông cáo báo chí | Ý kiến phản hồi | Diễn đàn | Sơ đồ site | Liên hệ |Liên kết|

    Giấy phép thiết lập Website trên INTERNET số 256/GP-BC ngày 24-08-2006.

    Người chịu trách nhiệm: Thứ trưởng Vũ Thị Mai

    Số 28 Trần Hưng Đạo - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội

    Tel: (84-4) 2220.2828 • Fax: (84-4) 2220.8091 • Email: support@mof.gov.vn