 |
| Ảnh minh
hoạ.Nguồn: Internet |
Việc hình thành bộ phận quản lý thuế DNL
đã thể hiện tính kết hợp linh hoạt mô hình quản lý thuế theo chức
năng với quản lý thuế theo đối tượng với mục tiêu: Thí điểm thực
hiện một cơ cấu tổ chức, hệ thống và quy trình quản lý thuế mới; đảm
bảo số thu NSNN bằng cách đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ cơ bản về
khai và nộp thuế; nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thanh tra,
nâng cao chất lượng quản lý nợ và phục vụ người nộp thuế là doanh
nghiệp lớn tốt hơn.
Thực hiện Chiến
lược cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế đến năm 2010, và bước đầu
để thực hiện Chiến lược cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế đến năm
2020, với mục tiêu tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế tự khai,
tự nộp và đáp ứng yêu cầu quản lý thuế theo quy định của Luật Quản
lý thuế, ngày 28/9/2009 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số
115/2009/QĐ-TTg quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính thay thế quyết
định số 76/2007/QĐ- TTg. Về cơ bản giữ nguyên các các chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục Thuế, tuy nhiên có sự thay đổi về
tổ chức cũng như mô hình quản lý thuế, trong đó có sự ra đời của Vụ
Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn (Vụ Quản lý thuế DNL). Chức năng,
nhiệm vụ của chính của Vụ Quản lý thuế DNL được thể hiện rõ trong
quyết định số 106/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ Tài chính quy định
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Vụ và Văn phòng thuộc
Tổng cục Thuế như: Xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp lớn ;
Hướng dẫn, giải đáp cơ chế chính sách thuế, tham mưu đề xuất về cơ
chế chính sách thuế đặc thù và quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn;
Phối hợp thực hiện các chức năng quản lý thuế đối với doanh nghiệp
lớn như thanh tra, quản lý nợ, xây dựng dự toán...
Việc hình thành bộ phận
quản lý thuế DNL đã thể hiện tính kết hợp linh hoạt mô hình quản lý thuế
theo chức năng với quản lý thuế theo đối tượng với mục tiêu: Thí điểm
thực hiện một cơ cấu tổ chức, hệ thống và quy trình quản lý thuế mới;
đảm bảo số thu NSNN bằng cách đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ cơ bản
về khai và nộp thuế; nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thanh
tra, nâng cao chất lượng quản lý nợ và phục vụ người nộp thuế là
doanh nghiệp lớn tốt hơn.
Ngày 19/402010, Bộ
Tài chính ký quyết định số 856/QĐ-BTC quy định danh sách doanh
nghiệp thuộc diện Tổng cục Thuế trực tiếp tổ chức công tác quản lý
thuế (DNL). Theo đó, Tổng cục Thuế (Vụ Quản lý thuế DNL) tham gia
quản lý thuế đối với 35 Tổng công ty, Tập đoàn gồm 415 doanh nghiệp
là các Công ty con trực thuộc, đơn vị liên kết... của 35 Tổng công
ty, Tập đoàn. Các DNL có mạng lưới thành viên trên địa bàn cả nước,
xong tập trung chủ yếu tại các địa bàn thành phố Hà Nội (158 doanh
nghiệp), thành phố Hồ chí Minh (73), Quảng Ninh (26), Hải Phòng
(16), Bà Rịa - Vũng Tàu (14), Đà Nẵng (8), Đồng Nai (6), Vĩnh Phúc
(4), …
Doanh nghiệp lớn
là một trong số các nguồn chủ yếu cung cấp tài chính cho NSNN thông
qua thuế, phí và góp phần tạo ra tích luỹ cho nền kinh tế quốc gia.
Có thể nói, đối với nhiều quốc gia đang phát triển, đóng góp của
doanh nghiệp lớn và tổng thu nhập quốc dân và NSNN là rất lớn. Ngay
cả với nhiều nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ đóng góp của doanh
nghiệp lớn vào Tổng thu nhập quốc dân cũng khá lớn. Với số lượng 415
DNL ở Việt Nam trong năm 2009 và năm 2010 đóng góp khoảng 36% tổng
thu NSNN/năm (bao gồm cả số thu từ dầu thô). Do đó, việc thực hiện
quản lý thuế đối với DNL là rất cần thiết. Để quản lý thuế đối với
DNL có rất nhiều nội dung cần thực hiện, trong đó nội dung 100% DNL
khai thuế qua mạng là một yêu cầu cấp bách để thực hiện công tác
quản lý thuế DNL ở Việt Nam
Kê khai thuế qua
mạng Internet là việc doanh nghiêp kê khai thuế trên máy vi tính của
mình và gửi tới cơ quan quản lý thuế bằng mạng Internet, mà không
phải gửi qua đường bưu điện hoặc đến nộp trực tiếp hồ sơ bằng giấy
cho cơ quan thuế. Kê khai thuế qua mạng là hình thức giao dịch điện
tử giữa doanh nghiệp với cơ quan thuế, một trong những hình thức
giao dịch được pháp luật về thuế quy định, đây là hình thức giao
dịch văn minh, hiện đại.Chữ ký số là thông tin đi kèm dữ liệu nhằm
mục đích xác định người chủ của dữ liệu đó. Chữ ký số có thể hiểu
như con dấu điện tử của người phát hành văn bản, tài liệu trong giao
dịch điện tử. Chữ ký số ngoài việc sử dụng cho kê khai thuế qua mạng,
có thể được sử dụng trong giao dịch điện tử khác như Hải Quan điện
tử, giao dịch với Ngân hàng, Chứng khoán…Chữ ký số đã được chứng
minh đảm bảo về tính an ninh và được thừa nhận về pháp lý tương
đương với con dấu và chữ ký của doanh nghiệp.
Theo quy định,
doanh nghiệp để đăng ký kê khai thuế qua mạng Internet cần có chữ ký số do
nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp. Để
thực hiện khai thuế qua mạng, doanh nghiệp cần thực hiện lập hồ sơ
khai thuế bằng phần mềm ứng dụng Hỗ trợ kê khai từ phiên bản mới
nhất do Tổng cục Thuế cung cấp miễn phí; đồng thời DN đã được cấp
Chứng thư số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công
cộng được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động. Đội ngũ
kế toán doanh nghiệp phải biết sử dụng máy tính, có khả năng truy
cập và sử dụng mạng Internet; đồng thời có địa chỉ thư điện tử của
doanh nghiệp liên lạc ổn định với cơ quan thuế, chạy được phần mềm
mã vạch HTKK để tạo các loại hồ sơ khai thuế: Tờ khai GTGT, TNDN,
TTĐB, Báo cáo tài chính; sử dụng máy tính nối mạng Internet để khai
trực tuyến các loại hồ sơ như: Báo cáo sử dụng hóa đơn, tờ khai phí,
tờ khai thuế nhà thầu…
Nhằm tạo thuận lợi
cho người nộp thuế (NNT) trong việc thực hiện nghĩa vụ khai thuế,
góp phần tích cực vào công cuộc cải cách thủ tục hành chính nói
chung và thủ tục thuế nói riêng, thực hiện quyết định số 1830/QĐ-BTC
ngày 29/7/2009 của Bộ Tài chính về việc thí điểm Người nộp thuế
(NNT) nộp hồ sơ khai thuế qua mạng Internet, từ tháng 8/2009 Tổng
cục Thuế đã triển khai thí điểm hệ thống khai thuế qua mạng tại 4
địa bàn: Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Bà Rịa - Vũng Tàu cho
các tờ khai thuế: Giá trị gia tăng, Thu nhập doanh nghiệp, Tiêu thu
đặc biệt, Tài nguyên, Thu nhập cá nhân, Báo cáo sử dụng hóa đơn, Tờ
khai thuế nhà thầu nước ngoài. Căn cứ quyết định số 2441/QĐ-BTC ngày
27/9/2010 của Bộ Tài chính và quyết định số 1343/QĐ-TCT ngày
19/8/2010 của Tổng cục Thuế về việc triển khai mở rộng hệ thống khai
thuế qua mạng năm 2010, hệ thống iHTKK được triển khai mở rộng 19
tỉnh/thành phố gồm: Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Bà Rịa -
Vũng Tàu, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Ninh Bình, Quảng Bình, Cần Thơ, Bình Thuận, Vĩnh Phúc, Bắc
Ninh, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Lào Cai.
Kê khai thuế
qua mạng: Lợi ích đối với DN lớn, nhiệm vụ quan trọng trong cải cách
và hiện đại hoá của ngành thuế
Không giới hạn
số lần gửi 1 tờ khai:
Khi doanh nghiệp kê khai sai và vẫn còn hạn nộp tờ khai, doanh
nghiệp có thể gửi tờ khai thay thế với số lần gửi thay thế không hạn
chế. Doanh nghiệp có thể gửi tờ khai vào trước 24h ngày cuối cùng
nộp tờ khai vẫn không bị tính nộp chậm.
Không giới hạn
về “Không gian”:
Doanh nghiệp có thể khai thuế qua mạng khi ở cơ quan, đang đi du
lịch, đang về quê cùng gia đình, đang đi công tác đột xuất…
Không giới hạn
về thời gian:
Doanh nghiệp có thể gửi tờ khai vào tất cả các ngày kể cả ngày lễ,
tết, thứ 7, chủ nhật và có thể gửi vào bất kỳ thời gian nào trong
ngày từ 0h00 đến 24h00.
Tiết kiệm chi
phí:
Tiết kiệm chi phí in tờ khai; tiết kiệm chi phí đi lại; tiết kiệm
thời gian: thời gian tắc đường, thời gian xếp hàng …
Trường hợp
không có mặt ở trụ sở:
Người đại diện doanh nghiệp vẫn có thể tự ký chữ ký số và khai thuế
thông qua mạng internet hoặc có thể uỷ quyền quản lý chữ ký số cho
người được tin cậy để ký và nộp tờ khai.
Thông tin
và số liệu khai thuế của doanh nghiệp:
Đảm bảo được gửi đến cơ quan thuế một cách nhanh chóng, chính xác,
không sai sót, nhầm lẫn do phần mềm HTKK hỗ trợ tính toán, kiểm tra
lỗi không cố ý khi khai thuế.
Đối với cơ cơ
quan thuế,
khai thuế
qua mạng là một nội dung quan trọng đối với công tác cải cách và
hiện đại hóa ngành thuế. Đây là giải pháp nhằm giảm tình trạng quá
tải, áp lực cho các cơ quan thuế mỗi khi đến kỳ hạn nộp hồ sơ khai
thuế. Giảm thời gian, nhân lực tiếp nhận tờ khai, đặc biệt là giảm
rất nhiều chi phí cho việc lưu trữ hồ sơ khai thuế cũng như tìm kiếm
thông tin.
Có thể nói, khai
thuế qua mạng internet là bước đi tất yếu trong giai đoạn hiện nay
nhằm từng bước hiện đại hóa ngành thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà
nước, giảm áp lực cho ngành thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội. Đây cũng là xu hướng tất yếu trong thời kỳ kinh tế hội nhập
hiện nay.
Một số DNL chưa
thực hiện khai thuế qua mạng: Xuất phát từ nhiều nguyên nhân
Ngoài số DNL tại
các Cục Thuế chưa tiến hành triển khai công tác khai thuế qua mạng,
tính đến hết 31/5/2011 mới chỉ có 266/345 doanh nghiệp lớn tại 18
Cục Thuế thực hiện khai thuế qua mạng. Một số DNL chưa thực hiện
khai thuế qua mạng xuất phát từ các lý do chính sau:
Tại thông tư số 180/2010/TT-BTC
ngày 10/11/2010 hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế quy
định Người nộp thuế có quyền tự do lựa chọn hình thức khai và nộp
thuế. Nghĩa là hiện nay việc khai thuế qua mạng chỉ mang tính khuyến
khích không bắt buộc đối với doanh nghiệp lớn.
- Một số DNL chưa
thấy rõ lợi ích của phương thức khai thuế hiện đại này: Do công tác
tuyên truyền lợi ích của dịch vụ khai thuế qua mạng chưa được đề cao,
vẫn còn một số doanh nghiệp chưa hiểu rõ dịch vụ này hoặc thấy đây
là dịch vụ mới nên còn tâm lý e dè chưa đang ký tham gia thực hiện
khai thuế qua mạng ngay mà đợi triển khai một thời gian sau đó mới
đăng ký thực hiện
- Về mặt cơ chế,
chính sách, hiện vẫn chưa có văn bản pháp lý quy định rõ trách nhiệm
sử dụng, bảo quản chứng thư số, hoặc lưu trữ hồ sơ khai thuế điện tử
khi khai thuế qua mạng. Các DNL khai thuế qua mạng vẫn phải in thêm
hồ sơ giấy để lưu trữ phục vụ công tác thanh tra kiểm tra do một số
cơ quan chức năng khi đi thanh tra kiểm tra không đồng ý sử dụng hồ
sơ điện tử.
- Nhiều DN nước
ngoài, DN khối ngân hàng... có chính sách an ninh thông tin hoặc
phần mềm diệt virus đặc thù nên khó thực hiện cài đặt phần mềm. Một
số doanh nghiệp sử dụng hệ thống thư điện tử bảo mật chặn mail thông
báo cấp tài khoản và mật khẩu của hệ thống khai thuế qua mạng.
- Các doanh nghiệp
lớn chưa thực hiện khai thuế qua mạng bởi họ quan tâm đến
tính bảo mật của những thông tin kê
khai qua mạng sẽ được thực hiện như thế nào: Việc nộp hồ sơ khai
thuế qua mạng rất an toàn, đảm bảo bí mật, nó sẽ được mã hoá để bảo
mật thông tin của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp được cơ quan thuế
cấp cho một mật mã riêng thay cho con dấu và chữ ký của người đại
diện pháp luật của doanh nghiệp, được bảo mật theo quy định của Luật
Giao dịch điện tử. Giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ sẽ ký
kết một thỏa thuận trong đó có những điều khoản về ràng buộc trách
nhiệm đối với việc bảo mật thông tin. Bản thân các nhà cung cấp dịch
vụ, khi được Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính cấp phép thì cũng đã phải
trải qua các bước kiểm tra và phải đảm bảo các tiêu chuẩn đề ra của
cơ quan thuế về vấn đề này. Mục tiêu an toàn bảo mật luôn được ngành
thuế đặt lên hàng đầu, tuy nhiên, ngành thuế cũng sẽ phối hợp với
người nộp thuế tăng cường sao lưu, dự phòng sự cố, cháy nổ có thể
làm mất dữ liệu.
- Một số DNL không
thích khai thuế qua mạng vì sợ bị cơ quan thuế tăng cường sự kiểm
soát: Đây là một quan niệm không đúng vì Cơ quan thuế giám sát sự
tuân thủ của NNT với mục tiêu giúp NNT thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ
thuế đối với NSNN. Do đó thông qua khai thuế qua mạng, bộ phận quản
lý thuế DNL sẽ thông báo đến DNL một cách sớm nhất, kịp thời nếu có
sự sai sót để DNL thực hiện điều chỉnh lại để không xảy ra tình
trạng bị phạt do khai sai, không nộp tờ khai, khai thiếu do đó DNL
sẽ không phải nộp các khoản phạt liên quan đến khai sai, chậm nộp,
nộp không đủ. Hiện nay với số lượng 415 DNL thì việc giám sát khai
thuế đối với DNL được thực hiện rất tốt bởi bộ phận quản lý thuế DNL.
Đứng ở góc độ này cơ quan thuế thực sự là một công cụ kiểm tra, giám
sát tốt nhất giúp DNL tiết kiệm được các khoản chi phí liên quan đến
vi phạm hành chính về thuế. Đương nhiên thông qua việc giám sát DNL
thực hiện khai thuế qua mạng cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những DNL
cố tình không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với NSNN và sẽ có những
cơ chế xử lý đúng theo pháp luật
Giải pháp hữu hiệu để tất cả DNL kê khai thuế qua mạng
Nằm trong chiến lược cải cách hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2020,
trong thời gian tới cơ quan thuế cần thực hiện một số nội dung sau
để thực triển khai thành công
việc khai thuế qua
mạng internet đối với tất cả NNT, trong đó có mục tiêu 100% số lượng
DNL thực hiện khai thuế qua mạng nhằm
góp phần thực hiện tốt công tác quản lý thuế đối với DNL:
Một là, đẩy
mạnh công tác tuyên truyền về lợi ích của khai thuế qua mạng và sử
dụng chữ ký số; Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống, nâng
cấp hạ tầng mạng, đường truyền thiết bị cổng thông tin điện tử của
cơ quan thuế đảm bảo hệ thống hoạt động nhanh, ổn định; Ba là, đẩy
mạnh triển khai hệ thống khai thuế qua mạng đối với các địa phương
đã có đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng về công nghệ thông
tin; Bốn là, từng bước hoàn thiện khung pháp lý về khai thuế
điện tử nhất là việc sử dụng hồ sơ điện tử đối với các doanh nghiệp.
Chỉ khi nào hồ sơ điện tử của doanh nghiệp được sử dụng
phục vụ công tác
thanh tra, kiểm tra thì lúc lấy giá trị của công việc khai thuế qua
mạng mới được thể hiện đầy đủ đối với NNT.
|
Kết quả
khai thuế qua mạng đối với doanh nghiệp lớn:
Tính đến
cuối kỳ tính thuế tháng 5/2011 đã có 23.194 NNT tại 19 tỉnh,
thành phố đăng ký khai thuế qua mạng và đã có 18.431 NNT
thực hiện khai thuế qua mạng với tổng số Tờ khai điện tử đã
nhận vào hệ thống quản lý thuế 259.337 tờ khai. Trong đó
266/345 doanh nghiệp lớn tại 18 Cục Thuế, đạt tỷ lệ gần 77 %
DNL thực hiện kê khai thuế qua mạng (số DNL còn lại thuộc
các địa bàn chưa triển khai hệ thống khai thuế qua mạng).
Các DNL tại
Việt Nam có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất cũng như con
người để thực hiện khai thuế qua mạng. Tuy nhiên, đến
31/5/2011 số lượng các doanh nghiệp lớn khai thuế qua mạng
mới đạt con số 266/345 doanh nghiệp. Điều này đã làm ảnh
hưởng không nhỏ tới công tác quản lý thuế đối với Doanh
nghiệp lớn. Vấn đề cần quan tâm ở đây là tại sao một số
lượng lớn doanh nghiệp lớn lại chưa thực hiện khai thuế qua
mạng trong khi lợi ích của việc khai thuế qua mạng đã được
chứng minh rằng đó là lợi ích kép đối với doanh nghiệp lớn
so với việc khai thuế thông thường (khai và nộp hồ sơ thuế
bằng giấy)… |
Lưu Ngọc Thơ - Vụ
QLDNL Tổng cục Thuế