Công khai ngân sách nhà nước

   Gửi bài    In bài

Phần thứ hai

03/01/2012 | 15:13:00

Phần thứ hai

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2012

I. MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2012

1. Bối cảnh thế giới và trong nước

Dự báo kinh tế thế giới năm 2012 sẽ gặp nhiều khó khăn và thách thức, có nhiều yếu tố tác động xấu đến đà phục hồi và thậm chí kinh tế thế giới có thể rơi vào đợt suy thoái mới. Thâm hụt ngân sách và nợ công tăng ở nhiều nước  EU, Mỹ, Nhật Bản, đe dọa sự ổn định của kinh tế thế giới. Cùng với những khó khăn đó, sự tăng trưởng chậm lại và lạm phát gia tăng ở những nền kinh tế mới nổi như: Trung Quốc, Ấn Độ,..., những bất ổn về chính trị, xung đột khu vực, tranh chấp lãnh thổ sẽ gây thêm khó khăn cho sự phát triển. Trong bối cảnh đó, các chính sách và biện pháp bảo hộ mậu dịch, hàng rào thuế quan và phi thuế quan gia tăng.

Ở trong nước, các giải pháp, chính sách về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đã bước đầu phát huy hiệu quả. Bội chi ngân sách nhà nước giảm dần, xuất khẩu tăng nhanh góp phần giảm nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, tăng dự trữ ngoại hối của nhà nước. Đó là những điều kiện rất quan trọng tạo đà tăng trưởng cao hơn trong năm 2012 và các năm tiếp theo.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi như trên, nền kinh tế nước ta cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô chưa ổn định; lạm phát và lãi suất đang còn ở mức cao ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp nhiều khó khăn. Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản hoạt động trì trệ. Ngoài ra, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh vẫn là những yếu tố phức tạp, khó lường trong thời gian tới.

2. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của năm 2012 là: Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.

 

3. Dự kiến các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của năm 2012:

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6-6,5%.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 13%. Nhập siêu khoảng 11-12% trên tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong điều kiện cho phép, phấn đấu giảm nhập siêu xuống dưới 10% tổng kim ngạch xuất khẩu.

- Bội chi ngân sách phấn đấu dưới 4,8% GDP.

- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội khoảng 33,5% GDP.

- Chỉ số giá tiêu dùng tăng dưới 10%.

II. DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2012

1.  Mục tiêu, nhiệm vụ NSNN năm 2012:

Năm 2012 là năm thứ hai và là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng khoá XI, kế hoạch phát triển KT-XH và NSNN 5 năm 2011-2015, là năm cần tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế bền vững những năm tiếp theo. Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu tài chính - ngân sách năm 2012 là: Xây dựng dự toán NSNN năm 2012 một cách tích cực; ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; tiếp tục thực hiện cơ cấu lại NSNN theo hướng ưu tiên đầu tư cho con người, cải cách tiền lương, các chính sách an sinh xã hội; đảm bảo an ninh quốc phòng và an ninh tài chính quốc gia trong tình hình mới. Theo đó, nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2012 dự kiến bao gồm những nội dung chủ yếu như sau:

- Tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật Thuế bảo vệ môi trường và Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012). Tiếp tục rà soát, điều chỉnh hệ thống pháp luật về thu NSNN theo hướng giảm mức độ huy động để giúp doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh có thêm tích luỹ cho đầu tư phát triển; đồng thời thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế; tăng cường cải cách thủ tục hành chính thuế; tăng cường xử lý các khoản nợ đọng thuế, kiểm soát thất thu; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, trốn lậu thuế và gian lận thương mại.

- Tiếp tục cơ cấu lại NSNN theo hướng tăng chi cho con người, chi thực hiện các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ các vùng khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đảm bảo các hoạt động quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Tăng cường thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển. Tập trung vốn từ NSNN để đầu tư đồng bộ các công trình, dự án trọng yếu; các dự án phát triển nguồn nhân lực, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, các công trình có khả năng hoàn thành và đưa vào sử dụng ngay trong năm 2012.

- Tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát để nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách ở tất cả các lĩnh vực, các ngành, các cấp; tăng cường tiết kiệm chi, chống lãng phí, tham nhũng; phấn đấu giảm dần bội chi NSNN.

2. Dự toán NSNN năm 2012:

2.1. Dự toán thu NSNN năm 2012: 740.500 tỷ đồng, tỷ lệ động viên từ thuế và phí đạt 21,1%GDP[1], gồm:

a) Thu nội địa (không kể thu tiền sử dụng đất): 457.600 tỷ đồng, tăng 19,9% so ước thực hiện năm 2011. Trong đó, dự toán thu từ khu vực kinh tế quốc doanh tăng 19%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,5%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 25,1%; thu thuế thu nhập cá nhân tăng 24,7% so với ước thực hiện năm 2011.

b) Thu tiền sử dụng đất: 37.000 tỷ đồng, bằng 85,1% ước thực hiện năm 2011.

Về quy mô dự toán thu nội địa (bao gồm cả thu từ đất) năm 2012, có 25 địa phương đạt trên 3.000 tỷ đồng, trong đó 14 địa phương thu trên 5.000 tỷ đồng, tăng 5 địa phương so với ước thực hiện năm 2011 (tăng 6 địa phương mới là: Hưng Yên, Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế; giảm 1 địa phương: Hải Dương); 26 địa phương thu đạt từ 1.000 - 3.000 tỷ đồng, giảm 4 địa phương so với ước thực hiện năm 2011 (Giảm 5 địa phương: Hưng Yên, Thừa thiên - Huế, Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp; tăng 1 địa phương: Đắk Nông); 11 địa phương thu đạt từ 500 - 1.000 tỷ đồng; chỉ còn 3 địa phương thu dưới 500 tỷ đồng, giảm 1 địa phương (Cao Bằng) so với ước thực hiện năm 2011.

c) Dự toán thu dầu thô: 87.000 tỷ đồng, trên cơ sở sản lượng dự kiến đạt 14,68 triệu tấn, giá bình quân dự kiến đạt 85 USD/thùng.

d) Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu:

Dự toán thu NSNN năm 2012 từ hoạt động xuất nhập khẩu được xây dựng trên cơ sở dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt khoảng 107,4 tỷ USD, tăng 13%; kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 119,2 tỷ USD, tăng 13,5% so với ước thực hiện năm 2011. Năm 2012 dự kiến thực hiện cắt giảm khoảng 900 dòng thuế để thực hiện các cam kết quốc tế, làm giảm thu NSNN khoảng 1.000 tỷ đồng; đồng thời tiếp tục sử dụng linh hoạt công cụ thuế để hạn chế nhập siêu (nhất là các mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu), hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Dự toán thu năm 2012 cũng đã tính tới yếu tố đẩy mạnh công tác xử lý, thu hồi nợ đọng, cải cách hành chính, thủ tục hải quan và công tác kiểm tra sau thông quan, tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, chống gian lận thương mại và trốn thuế.

Trên cơ sở đó, dự toán thu NSNN năm 2012 từ hoạt động xuất nhập khẩu là 223.900 tỷ đồng, tăng 15,5% so ước thực hiện năm 2011. Trong đó, thu từ thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu là 80.500 tỷ đồng, tăng 11,1%; dự toán thu từ thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu là 143.400 tỷ đồng, tăng 18,2% so với ước thực hiện năm 2011.

Sau khi trừ đi số chi hoàn thuế theo chế độ năm 2012 dự kiến là 70.000 tỷ đồng (năm 2010 là 50.900 tỷ đồng, ước thực hiện năm 2011 là 61.000 tỷ đồng), thì dự toán thu cân đối NSNN từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2012 là 153.900 tỷ đồng, tăng 15,8% so với ước thực hiện năm 2011.

đ) Thu viện trợ không hoàn lại: 5.000 tỷ đồng, bằng dự toán năm 2011.

Tổng hợp chung, dự toán thu cân đối NSNN năm 2012 là 740.500 tỷ đồng, tăng 9,8% so ước thực hiện năm 2011. Về cơ cấu thu năm 2012, dự toán thu nội địa chiếm 66,8% tổng thu NSNN (dự toán năm 2011 là 64,2%), thu dầu thô chiếm 11,7% (dự toán năm 2011 là 11,6%), thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 20,8% tổng thu NSNN (dự toán năm 2011 là 23,3%).

2.2. Dự toán chi NSNN năm 2012:

Năm 2012 là năm trong thời kỳ ổn định ngân sách mới (2011-2015), vì vậy việc bố trí dự toán cơ bản được thực hiện theo hệ thống định mức phân bổ dự toán chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên NSNN hiện hành; đồng thời, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an ninh quốc phòng trong tình hình mới, tiếp tục ưu tiên đầu tư cho con người, thực hiện cải cách tiền lương, vì vậy nhu cầu tăng chi NSNN năm 2012 là rất lớn.

Với dự kiến thu NSNN như trên, thì nguồn chi năm 2012 được bổ sung thêm 145.500 tỷ đồng từ tăng thu NSNN so với dự toán năm 2011. Ngoài ra, thực hiện chủ trương giảm dần bội chi NSNN, dự kiến năm 2012 bội chi ở mức 4,8%GDP, tương ứng 140.200 tỷ đồng. Cùng với số dự kiến chuyển nguồn từ tăng thu NSTW năm 2011 sang là 22.400 tỷ đồng thì dự kiến nguồn cân đối chi NSNN năm 2012 tăng thêm so với dự toán năm 2011 là 177.500 tỷ đồng; trong đó: nguồn NSĐP tăng thêm khoảng 62.904 tỷ đồng; nguồn NSTW tăng thêm khoảng 114.596 tỷ đồng, mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu tăng chi NSNN năm 2012. Căn cứ khả năng và yêu cầu, dự toán chi NSNN năm 2012 được bố trí theo nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN theo hướng ưu tiên đầu tư cho con người, cải cách tiền lương, thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá thông tin, y tế, sự nghiệp bảo vệ môi trường theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, đảm bảo chi quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Riêng chi đầu tư phát triển, bố trí tăng về số tuyệt đối nhưng giảm dần tỷ trọng trong tổng chi NSNN để có nguồn tăng chi đầu tư cho con người, đảm bảo an sinh xã hội.

Thứ hai, phân bổ chi ngân sách theo hướng tiết kiệm, tập trung, chống dàn trải, đảm bảo đủ kinh phí thực hiện các cơ chế, chính sách đã ban hành; tập trung hơn cho những nhiệm vụ quan trọng, vùng miền và địa phương, đơn vị khó khăn; thúc đẩy nhanh việc đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công, tăng cường cơ chế tự chủ tài chính, thực hiện cơ chế giá dịch vụ đi đôi với việc sửa đổi, ban hành chính sách hỗ trợ các đối tượng chính sách, hộ nghèo.

Thứ ba, bố trí chi dự phòng, dự trữ quốc gia hợp lý để chủ động phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,...; bố trí đảm bảo chi trả nợ theo cam kết. 

Thứ tư, dự toán chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia với mức tăng tương ứng hoặc cao hơn tốc độ tăng chi chung của các lĩnh vực chi.

Trên cơ sở các nguyên tắc như trên, dự toán chi NSNN năm 2012 là 903.100 tỷ đồng, được bố trí cho các nhiệm vụ chính như sau:

a) Dự toán chi đầu tư phát triển: 180.000 tỷ đồng, tăng 18,4% (28.000 tỷ đồng) so dự toán năm 2011, bằng 19,9% tổng chi NSNN (dự toán năm 2011 là 20,9%) để tập trung ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp nông thôn, các công trình giao thông cấp thiết; các công trình y tế, giáo dục phục vụ an sinh xã hội; các dự án phục vụ an ninh, quốc phòng đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới... trong đó tập trung đầu tư cho các công trình, dự án lớn cần đẩy nhanh tiến độ đưa vào hoạt động nhằm mang lại hiệu quả đầu tư; chi cấp bù chênh lệch lãi suất tín dụng đầu tư Nhà nước và chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách; cho vay ưu đãi theo chính sách xã hội của nhà nước (người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số cải thiện nhà ở, phát triển sản xuất, xuất khẩu lao động...); đầu tư thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; chi dự trữ quốc gia để ứng phó với diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ,...

Ngoài ra, năm 2012 dự kiến phát hành khoảng 45.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ để tiếp tục thực hiện các dự án giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục và các công trình thuỷ điện. Tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ và nguồn thu xổ số kiến thiết thì tổng chi đầu tư phát triển năm 2012 bằng khoảng 25% tổng chi NSNN và 8,2%GDP (dự toán năm 2011 tương ứng là 26,3% và 9%).

b) Dự toán chi trả nợ và viện trợ: 100.000 tỷ đồng, tăng 14.000 tỷ đồng so với dự toán năm 2011 để đảm bảo chi trả các khoản nợ trong và ngoài nước đến hạn. Đồng thời vẫn phải thực hiện biện pháp phát hành để đảo nợ và giãn trả các khoản vay từ các quỹ tài chính Nhà nước.

c) Dự toán chi thường xuyên: 542.000 tỷ đồng, bằng 60% tổng dự toán NSNN, tăng 10,9% so với dự toán năm 2011 (đã tính theo cùng mặt bằng lương và các khoản phụ cấp tính theo lương với mức tiền lương tối thiểu 830 nghìn đồng/tháng). Số tăng chi thường xuyên năm 2012 so với dự toán năm 2011 bao gồm tăng chi thường xuyên của địa phương (do tăng nguồn thu NSĐP được hưởng theo phân cấp); tăng chi các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá thông tin, y tế, bảo vệ môi trường (ngoài tăng chi đầu tư, chi tiền lương) để đảm bảo tỷ lệ so với tổng chi NSNN theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội; tăng chi đảm bảo xã hội; đảm bảo các nhiệm vụ quan trọng về an ninh, quốc phòng,...

Trên cơ sở đó, định hướng phân bổ chi thường xuyên theo từng lĩnh vực chủ yếu như sau:

- Dự toán chi sự nghiệp giáo dục-đào tạo: 135.920 tỷ đồng, tăng 11,1% so dự toán năm 2011. Cùng với chi đầu tư XDCB, chi đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết, chi đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ và chi cải cách tiền lương (bao gồm cả chi thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên đối với giáo viên theo quy định tại Nghị định số 54/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 của Chính phủ), tổng chi giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 20% tổng chi NSNN theo Nghị quyết số 37/2004/NQ-QH11 của Quốc hội. Tập trung thực hiện các nhiệm vụ lớn: nâng cao chất lượng kết quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, tiếp tục triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương; thực hiện chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho các đối tượng con em các hộ nghèo, sống thường trú tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,...; hỗ trợ các địa phương phát triển giáo dục đối với học sinh dân tộc bán trú, học sinh tại các vùng khó khăn, nâng cao hiệu quả giáo dục tại các trường phổ thông dân tộc nội trú; triển khai dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân; phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục; củng cố và mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh và bán trú cấp huyện; đổi mới và thống nhất các trình độ đào tạo, đa dạng hóa các hình thức và phương thức đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, chú trọng đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho nông nghiệp, nông thôn...; tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô của giáo dục đại học theo hướng ưu tiên mở rộng quy mô chương trình định hướng nghề nghiệp - ứng dụng; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

- Dự toán chi sự nghiệp y tế: 51.100 tỷ đồng, tăng 14,5% so dự toán năm 2011. Cùng với chi đầu tư XDCB, chi từ nguồn thu xổ số kiến thiết, trái phiếu Chính phủ và chi cải cách tiền lương (bao gồm cả chi thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập theo quy định tại Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 của Chính phủ), đảm bảo tổng dự toán chi NSNN cho lĩnh vực y tế tăng cao hơn so với tốc độ tăng chi chung của NSNN theo đúng Nghị quyết số 18/2008/QH12 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hoá để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Trong đó, tập trung đảm bảo chi cho công tác khám chữa bệnh, chi phòng chống dịch bệnh, chi vốn đối ứng tiếp nhận các dự án ODA; chi mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, hỗ trợ cá nhân thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp, hỗ trợ người cận nghèo, học sinh, sinh viên mua thẻ bảo hiểm y tế theo Luật Bảo hiểm y tế; dự phòng kinh phí phòng, chống dịch; dự kiến chi bổ sung, sửa đổi chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức người lao động ngành y tế; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

- Dự toán chi sự nghiệp khoa học và công nghệ: 7.160 tỷ đồng, tăng 10,4% so dự toán năm 2011. Cùng với chi đầu tư XDCB và chi điều chỉnh tiền lương, đảm bảo tổng dự toán chi NSNN cho khoa học và công nghệ bằng 2% tổng chi NSNN, đảm bảo kinh phí thực hiện các đề tài, dự án của các chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các đề tài, dự án khoa học và công nghệ độc lập cấp nhà nước; Đề án khai thác quỹ gien; nghiên cứu cơ bản theo định hướng ứng dụng; hợp tác theo Nghị định thư được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước; chi phát triển thị trường khoa học công nghệ; cấp vốn điều lệ cho Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia,...

- Dự toán chi lĩnh vực văn hoá: Cùng với chi XDCB, chi cải cách tiền lương bố trí chi lĩnh vực văn hoá đạt trên 1,8% tổng chi NSNN. Trong đó:

+ Dự toán chi sự nghiệp văn hoá - thông tin: 5.450 tỷ đồng, tăng 14,8% so dự toán năm 2011. Đảm bảo kinh phí để thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu như hỗ trợ sáng tạo tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí chất lượng cao; kinh phí thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn hoá nghệ thuật trong thời kỳ mới; kinh phí thực hiện các mục tiêu về bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của dân tộc, bảo tồn phát huy nghệ thuật truyền thống; thực hiện chính sách vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động thường xuyên cho các hội văn học nghệ thuật ở Trung ương, kinh phí trao giải báo chí quốc gia; tăng cường thông tin tuyên truyền về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong và ngoài nước; triển khai các chương trình, đề án quốc gia về công nghệ thông tin; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương...; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

+ Dự toán chi sự nghiệp phát thanh - truyền hình - thông tấn: 2.890 tỷ đồng, tăng 17,2% so dự toán năm 2011. Đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, đổi mới phương thức sản xuất tin, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị về thông tin, tuyên truyền được Đảng và Nhà nước giao; bố trí kinh phí đặt hàng dịch vụ truyền hình đối ngoại (VTC10), dịch vụ truyền hình phòng chống, giảm nhẹ thiên tai phục vụ cộng đồng (VTC14), dịch vụ truyền hình nông nghiệp, nông thôn (VTC16)...

- Dự toán chi sự nghiệp thể dục thể thao: 1.990 tỷ đồng, tăng 11,5% so dự toán năm 2011. Đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phát triển thể dục thể thao quần chúng; công tác giáo dục thể chất trong trường học; tổ chức các giải và hội thi thể thao khu vực; chuẩn bị lực lượng tham dự các Đại hội thể thao khu vực và thế giới; tổ chức các giải thể thao thành tích cao ở cấp quốc gia, quốc tế; đảm bảo các chế độ đối với vận động viên, huấn luyện viên (tiền ăn, tiền công, tiền thưởng), tính đủ kinh phí tiền thuê chuyên gia; từng bước tăng cường tiềm lực cơ sở vật chất, trang thiết bị các trung tâm, nhà thi đấu thể thao ở các cấp phục vụ cho các hoạt động thể thao thành tích cao...

- Dự toán chi lương hưu và đảm bảo xã hội: 85.560 tỷ đồng, tăng 6,3% so dự toán năm 2011. Bố trí đảm bảo chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội cho các đối tượng do NSNN bảo đảm; chi trợ cấp ưu đãi cho người có công với cách mạng; chi trợ cấp cho người tham gia kháng chiến chống Mỹ, tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau năm 1975; chi công tác tìm kiếm quy tập mộ liệt sỹ; chi mua bảo hiểm y tế cho thân nhân của cán bộ, sỹ quan, chiến sỹ phục vụ trong lực lượng vũ trang; chi thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; chi hỗ trợ người lao động là người dân tộc thiểu số tại các doanh nghiệp quốc phòng, doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên; chi thực hiện Luật Người cao tuổi và Luật Người khuyết tật; chi bảo vệ và chăm sóc trẻ em; chi phòng chống các tệ nạn xã hội; chi NSNN hỗ trợ quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

- Dự toán chi sự nghiệp kinh tế: 49.488 tỷ đồng, tăng 15,3% so dự toán năm 2011. Ưu tiên bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đặc thù như Chương trình phát triển kinh tế xã hội 62 huyện nghèo; Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2012; chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa; Đề án thí điểm bảo hiểm nông nghiệp cho nông dân ở một số địa phương giai đoạn 2011-2013; kinh phí thực hiện phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia,...; chi thực hiện phòng, chống dịch lở mồm long móng, dịch cúm gia cầm; kinh phí thực hiện kiểm kê rừng toàn quốc; tăng cường hỗ trợ địa phương thực hiện miễn thuỷ lợi phí; tăng chi thực hiện công tác quy hoạch, chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất tìm kiếm cứu nạn; tăng chi cho khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công; tăng kinh phí thực hiện nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, kinh phí thực hiện chương trình giống; tăng chi duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng quan trọng: đê điều, cầu cống, công trình thuỷ lợi, giao thông; tăng kinh phí nạo vét các tuyến đường sông, đường biển huyết mạch; kinh phí thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia và Chương trình hành động quốc gia. Tăng kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đề án quan trọng về quản lý đất đai; bổ sung kinh phí thực hiện đo đạc đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thực hiện các nhiệm vụ điều tra cơ bản phục vụ quy hoạch và quản lý ngành, lĩnh vực (dự án điều tra bể than đồng bằng sông Hồng, dự án điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên boxit miền Nam Việt Nam, đề án Thăm dò quặng urani huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam, các dự án thuộc Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển,...); chi bảo quản dự trữ.

- Dự toán chi sự nghiệp bảo vệ môi trường: 9.050 tỷ đồng, tăng 24,8% so dự toán năm 2011 đảm bảo chiếm trên 1% tổng chi NSNN theo Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm theo quy định của Luật bảo vệ môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường như: Đảm bảo hoạt động của hệ thống quan trắc và phân tích môi trường; xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công; ban hành các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường ngành; triển khai các đề án thuộc Chương trình hành động của Chính phủ về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các đề án bảo vệ môi trường các lưu vực sông; chi hỗ trợ phát triển năng lượng sạch (điện gió) thông qua Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam; hoàn thiện, cập nhật hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; các hoạt động khác có liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường.

- Dự toán chi quản lý hành chính: 77.460 tỷ đồng, tăng 10,5% so dự toán năm 2011. Đảm bảo đủ kinh phí chi thường xuyên theo định mức, kinh phí chi lương và các khoản có tính chất tiền lương, các khoản đóng góp theo lương theo mức lương tối thiểu 830.000 đồng/người/tháng; bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại; tăng kinh phí thực hiện lộ trình cải cách tư pháp; kinh phí thực hiện Luật Tố tụng hành chính, Luật Tố tụng hình sự; kinh phí phục vụ công tác sửa đổi Hiến pháp 1992; kinh phí thực hiện tổng điều tra cơ sở hành chính, sự nghiệp; kinh phí thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính; tăng kinh phí đóng niên liễm cho các tổ chức quốc tế (ADB,...); kinh phí tổ chức các Hội nghị, Đại hội theo nhiệm kỳ.

- Dự toán chi trợ giá các mặt hàng chính sách: 1.820 tỷ đồng, tăng 9,6% so dự toán năm 2011. Bố trí đảm bảo kinh phí thực hiện chính sách cấp không thu tiền một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; đảm bảo trợ giá giống gốc, giá báo, tạp chí thường xuyên theo quy định; tài trợ báo, tạp chí, trợ cước vận chuyển ấn phẩm văn hoá, sách báo ra nước ngoài; thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn để các đối tượng này chủ động mua sắm nguyên liệu, vật tư phục vụ sản xuất và đời sống (giống cây trồng, giống vật nuôi, thuốc thú y, muối iốt).   

d) Dự toán chi thực hiện cải cách tiền lương: Theo lộ trình cải cách tiền lương giai đoạn 2008-2012 thì đến năm 2012, lương tối thiểu sẽ được nâng lên mức 990 nghìn đồng/tháng. Trong bối cảnh nền kinh tế biến động, giá cả tăng cao, đời sống của đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng hưởng lương hưu, người có công gặp nhiều khó khăn, việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu ở mức cao hơn là cần thiết. Căn cứ khả năng cân đối của NSNN năm 2012, thực hiện điều chỉnh cải cách tiền lương từ 01/5/2012: (i) Điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu chung từ 830.000 đồng/tháng lên 1.050.000 đồng/tháng (tăng 220.000 đồng, tương ứng tăng 26,5%); (ii) lương hưu và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng tốc độ tăng lương tối thiểu; (iii) Phụ cấp công vụ mức 25% (tăng thêm 15% so với năm 2011).

Sau khi thực hiện cơ chế tạo nguồn theo quy định, phần NSTW phải bố trí cho cải cách tiền lương khoảng 43.300 tỷ đồng.

đ) Dự toán chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương: 100 tỷ đồng.

2.3. Bội chi NSNN: Mức bội chi NSNN năm 2012 là 140.200 tỷ đồng, bằng 4,8%GDP. Nguồn bù đắp bội chi: Vay trong nước: 115.500 tỷ đồng; vay nước ngoài: 24.700 tỷ đồng.

Với dự kiến vay nợ, trả nợ và huy động trái phiếu Chính phủ trong năm 2012 như trên, đến 31/12/2012 dư nợ Chính phủ bằng 46,1%GDP, dư nợ quốc gia bằng 44,2%GDP và dư nợ công bằng 58,4%GDP, ở mức đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

3. Các nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện dự toán NSNN năm 2012:

Một là, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp , tiếp tục thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, kết hợp hài hoà giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ.

(1) Kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định thị trường thông qua việc điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thận trọng nhưng linh hoạt; kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tín dụng; chủ động điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt ở mức hợp lý, theo tín hiệu thị trường. Thực hiện minh bạch hoá chi tiêu của NSNN và đầu tư công, nhất là đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ và đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Kiểm soát chặt các nguồn vốn nước ngoài ngắn hạn (vốn vay ngắn hạn, vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán), có cơ chế cảnh báo sớm đề phòng trường hợp rút vốn đột xuất, gây bất ổn định cán cân thanh toán quốc tế.

(2) Thực hiện thu NSNN theo thực tế phát sinh và đúng quy định của pháp luật về thuế, phí và lệ phí. Tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật Thuế bảo vệ môi trường, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012). Năm 2012 là năm trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương 2011-2015, để phù hợp với phân cấp ngân sách hiện hành, xác định khoản thuế bảo vệ môi trường (trong đó chủ yếu là thu từ phí xăng dầu trước đây) là khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP, khoản thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là khoản thu NSĐP hưởng 100%; riêng khoản thu thuế GTGT phát sinh của Nhà máy lọc dầu Dung Quất theo Hiệp định mới chuyển thu từ hoạt động xuất nhập khẩu sang thu nội địa, xác định là khoản thu NSTW hưởng 100%.

(3) Chỉ đạo quyết liệt, tăng cường quản lý thu NSNN, chống thất thu, nợ đọng thuế, nhất là thất thu đối với các khoản thu liên quan đến đất đai, tài nguyên và thất thu từ gian lận thương mại, gian lận kê khai thuế thông qua chuyển giá,... tiếp tục đổi mới các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế cho cộng đồng xã hội, đặc biệt là dịch vụ hỗ trợ các tổ chức, cá nhân nộp thuế để nâng cao sự hiểu biết và tính tuân thủ tự giác trong việc thực hiện tốt nghĩa vụ thuế. Tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp.

(4) Tăng cường kỷ luật tài chính, bảo đảm dư nợ Chính phủ, nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn, bố trí chi trả nợ đảm bảo các khoản nợ đến hạn của các hiệp định vay nước ngoài, các khoản vay phát hành trái phiếu trong nước, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế, góp phần duy trì hệ số tín nhiệm của quốc gia. Trong điều hành ngân sách, ưu tiên dành nguồn tăng thu ngân sách để giảm bội chi NSNN, tăng chi trả nợ nhằm giảm gánh nặng nợ cho các năm sau.

Hai là, điều chỉnh cơ cấu chi NSNN, cơ cấu đầu tư công (bao gồm cả đầu tư từ nguồn NSNN, trái phiếu Chính phủ, xổ số kiến thiết, tín dụng ưu đãi của Nhà nước...), khuyến khích và thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước theo hướng chọn lọc, thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý.

(5) Tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN theo hướng ưu tiên tăng đầu tư cho con người, cải cách tiền lương, thực hiện các chính sách an sinh xã hội; bố trí chi cho các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá thông tin, y tế, sự nghiệp bảo vệ môi trường,... theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội; đảm bảo chi cho quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; giảm dần tỷ trọng bố trí chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN. Kết hợp triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, đất đai, công sản, mở rộng áp dụng các hình thức đầu tư PPP, BOT, BT, BTO,... tiếp tục khuyến khích xã hội hoá, thu hút các nguồn lực bên ngoài, bao gồm cả huy động có lựa chọn các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và cung ứng dịch vụ công, qua đó góp phần từng bước tái cấu trúc lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý.

(6) Thực hiện quyết liệt các giải pháp tăng cường hiệu quả chi đầu tư phát triển của Nhà nước, bao gồm các nguồn vốn từ nguồn NSNN, trái phiếu Chính phủ và tín dụng ưu đãi.

- Đối với chi đầu tư từ nguồn NSNN và trái phiếu Chính phủ, do khả năng bố trí dự toán năm 2012 và giai đoạn 2012-2015 ở mức thấp so với yêu cầu, nên đòi hỏi các Bộ, ngành, địa phương phải quyết liệt rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên, tái cơ cấu các dự án đầu tư (kể cả các dự án sử dụng vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ) theo hướng:

+ Tập trung ưu tiên cho các dự án quan trọng, cấp bách trong các lĩnh vực hạ tầng thiết yếu, nông nghiệp nông thôn, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh; vốn đối ứng cho các dự án ODA.

+ Trong từng lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực ưu tiên nêu trên, phải thực hiện rà soát để giảm, giãn các dự án chưa cấp bách để tập trung vốn cho các dự án quan trọng, cấp bách, có thể sớm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả.

+ Việc rà soát, sắp xếp lại thứ tự ưu tiên để tiếp tục bố trí vốn Nhà nước hoặc yêu cầu tái cơ cấu, cần thực hiện ngay cả đối với các dự án đã hoàn thành nhờ sử dụng vốn ứng hoặc vay, các dự án dở dang.

+ Kiên quyết ngừng các dự án chưa cấp bách; dừng, giãn hoặc tái cơ cấu vốn, kêu gọi các nhà đầu tư khác tham gia đối với các dự án có thứ tự ưu tiên thấp hoặc có khả năng gọi vốn bên ngoài để tiếp tục triển khai thực hiện.

+ Hạn chế tối đa khởi công các công trình mới; trường hợp khởi công mới, phải có đủ thủ tục, lập kế hoạch chi tiết, cụ thể để đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn để hoàn thành dự án.

+ Đối với vốn trái phiếu Chính phủ, không mở mới dự án so với danh mục hiện hành. Đồng thời, thực hiện rà soát để sắp xếp thứ tự ưu tiên các dự án cần bố trí vốn; dừng, giãn tiến độ hoặc tái cơ cấu vốn các dự án còn lại.

+ Không ứng trước vốn năm 2013.

- Đối với cho vay tín dụng ưu đãi, thực hiện soát xét theo hướng thu gọn các ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên cho phù hợp với yêu cầu tái cấu trúc lại nền kinh tế.  Tiếp tục cho vay tín dụng ưu đãi đối với một số nhóm đối tượng nhằm thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội.

(7) Đối với chi đầu tư bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương, cần tăng cường phân cấp kết hợp kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo yêu cầu các địa phương sử dụng đúng mục tiêu, bố trí đủ phần vốn của NSĐP theo cam kết; tránh tình trạng các địa phương ỷ lại, trông chờ ngân sách Trung ương, trong khi khả năng cân đối ngân sách Trung ương ngày càng khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu giảm bội chi ngân sách, tăng chi an sinh xã hội và cải cách tiền lương.

(8) Định hướng điều chỉnh cơ cấu ngành, lấy chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ theo hướng tăng dần tỷ trọng phân ngành có giá trị gia tăng cao, có khả năng dựa vào lợi thế so sánh để chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá và xuất khẩu. Hạn chế phát triển các ngành khai thác, giảm tỷ trọng sử dụng nhiều yếu tố đầu vào là tài nguyên.

(9) Điều chỉnh chính sách đầu tư nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng theo hướng khuyến khích hình thành chuỗi giá trị trong nước và xuất khẩu nhằm tạo sự liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp, phát triển công nghiệp phụ trợ. Xây dựng tiêu chí để lựa chọn một số khu kinh tế có lợi thế để tập trung đầu tư đồng bộ, phát huy hiệu quả, đồng thời lựa chọn phân vùng đầu tư phù hợp, không dàn trải, để nâng cao hiệu quả đầu tư các khu kinh tế, khu công nghiệp.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh quá trình sắp xếp cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của khối các doanh nghiệp này; tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước khác để tạo nên sức mạnh của cộng đồng các doanh nghiệp của quốc gia.

(10) Tập trung triển khai phương án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2015 sau khi được phê duyệt. Đẩy mạnh công tác cổ phần hoá doanh nghiệp và chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. Tiếp tục thực hiện thoái vốn nhà nước tại những doanh nghiệp đã cổ phần hoá và không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối. Đối với những doanh nghiệp nhà nước thuộc diện Nhà nước tiếp tục giữ 100% vốn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ cấu, mô hình tổ chức theo đúng các quy định tại Luật doanh nghiệp. Chú trọng việc đổi mới cơ chế quản trị doanh nghiệp.

(11) Đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý của chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước theo hướng làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giám sát của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với các hoạt động của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, nhất là đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất - kinh doanh các mặt hàng thuộc diện quản lý giá của Nhà nước (như xăng dầu, điện, than,...) để xác định đúng lãi, lỗ, thúc đẩy công khai, minh bạch. Đặc biệt, nâng cao vai trò của Bộ quản lý ngành trong việc quản lý, theo dõi, giám sát các Tập đoàn, Tổng công ty lớn và thực hiện chức năng cảnh báo về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.

(12) Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khu vực tư nhân gia nhập thị trường, phát huy tiềm năng và huy động các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh. Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật; hỗ trợ đầu tư, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy hình thành các cụm kiên kết, cụm ngành công nghiệp, hỗ trợ thông tin và xúc tiến mở rộng thị trường trong phạm vi phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế.

Bốn là, thúc đẩy nhanh việc đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị. Thực hiện cơ chế giá dịch vụ theo hướng từng bước tính đủ chi phí, đồng thời bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành các chính sách hỗ trợ các đối tượng chính sách, người nghèo.

(13) Tổ chức triển khai có hiệu quả Kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá một số loại hình dịch vụ sự nghiệp. Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách thích hợp để từng bước điều chỉnh khung giá dịch vụ công theo cơ chế thị trường đối với các dịch vụ giáo dục, y tế gắn với đẩy mạnh quyền tự chủ tài chính, từng bước tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ nhằm huy động từ các đối tượng có khả năng thu nhập có nhu cầu cao; Nhà nước hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, người nghèo, đảm bảo công bằng xã hội. Tiếp tục khuyến khích xã hội hoá đi đôi với tăng cường quản lý Nhà nước.

Năm là, theo dõi chặt chẽ diễn biến giá thị trường trong nước và thế giới, thực hiện nguyên tắc quản lý giá thị trường đi đối với kiểm soát mặt bằng giá; thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các loại hình thị trường.

(14) Thực hiện cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo lộ trình nhằm kiểm soát lạm phát, tạo điều kiện huy động các nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hiệu quả. Trong năm 2012, tiếp tục thực hiện nguyên tắc giá thị trường đối với các mặt hàng điện, than,... theo lộ trình thích hợp, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội.

(15) Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo, theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường trong và ngoài nước để kịp thời áp dụng các biện pháp điều tiết cung - cầu và bình ổn thị trường, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các hiện tượng đầu cơ nâng giá; tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện quy định kiểm soát giá đối với những mặt hàng thuộc diện bình ổn giá, những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống. Xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý giá.

(16) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cùng với tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát, công khai minh bạch thông tin của thị trường tài chính nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ các thị trường trái phiếu, chứng khoán, bảo hiểm, thị trường khoa học công nghệ, lao động, bất động sản,… để nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường này và thúc đẩy huy động lưu thông và phân bổ các luồng vốn dài hạn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Hạn chế can thiệp hành chính, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định và phù hợp với các thông lệ quốc tế. Điều hành kế hoạch huy động vốn cho NSNN và đầu tư phát triển sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ bảo đảm hiệu quả, phù hợp với khả năng của thị trường, tiến độ giải ngân, sử dụng vốn.

Sáu là, Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; thúc đẩy thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

(17) Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2 (2011-2020), trong đó cần chú trọng vào một số nội dung trọng tâm là cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính. Nâng cao chất lượng tham vấn của người dân và doanh nghiệp trong các hoạt động cải cách thủ tục hành chính.

(18) Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, phân định và làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan Nhà nước ở các cấp từ trung ương đến địa phương; từng bước hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức theo hướng quy định rõ chức danh, tiêu chuẩn của từng vị trí, trên cơ sở đó xác định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi và xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức. Tiếp tục đổi mới chế độ tiền lương và có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức.

(19) Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán các khoản chi trong cân đối NSNN và các khoản chi được quản lý qua NSNN; vay về cho vay lại; bảo lãnh vay của Chính phủ; các khoản chi từ các quỹ tài chính Nhà nước; các khoản vay, tạm ứng của các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương. Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các chế tài xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về sử dụng NSNN.


[1] Tỷ lệ thu nội địa (không kể thu từ đất, thu từ tài nguyên bao gồm cả thu dầu thô, thu bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước) đạt 15,6%GDP.

Thông cáo báo chí | Ý kiến phản hồi | Diễn đàn | Sơ đồ site | Liên hệ |Liên kết|

Giấy phép thiết lập Website trên INTERNET số 256/GP-BC ngày 24-08-2006.

Người chịu trách nhiệm: Thứ trưởng Vũ Thị Mai

Số 28 Trần Hưng Đạo - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội

Tel: (84-4) 2220.2828 • Fax: (84-4) 2220.8091 • Email: support@mof.gov.vn